Over and over I whisper your name. Over and over I kiss you again
TT&NT

21.4.17

hứng chịu sự cô đơn, hay là tại sao tôi đọc sách ế :p



sách ế là sách không ai mua; sách bán chạy, sách được mua nhiều chưa chắc đã được đọc, nói gì đến sách ế :v. Thế sao lại có người đọc sách ế? Người khác thì tôi không biết, nhưng nếu lấy việc hiểu mình mà suy ra thế giới thì tôi giải thích ngắn gọn: 1, sách ế, tôi muốn đọc nó để lý giải vì sao nó ế. 2, tôi vốn ít khi đặt niềm tin vào đám đông nên sách bán chạy tôi ít đọc, sách ế thì tôi hẳn là sẽ đọc
Nói vui chuyện ấy để nói về đọc bà Colette. Một người bạn chuyên mua sách ế (cao thủ sách ế hơn tôi 8-9 phần công lực) đã ném cho tôi Nàng mèo như một lời nguyền kiểu "đọc hết chỗ sách gần 20q ấy đi rồi tôi sẽ cho cô quyển sách mà cô đang tha thiết năn nỉ" (may quá, thoát được lời nguyền của phù thủy zồi). Nàng mèo kể câu chuyện về một anh chàng cô đơn, ích kỷ và đầy chất thơ hăm ba hăm tư tuổi, nuôi và yêu tha thiết ả mèo của mình. Chả hiểu người đàn ông quyến rũ như thế lại bước vào hôn nhân làm cái của khỉ gì, nhất là với bộ mặt bước vào hôn nhân như bị kết án chứ :))). Lại gặp đúng cô vợ trái dấu thế là đâu có mấy tháng thì chia tay chia chân. Đúng kiểu chúng ta không mơ cùng giấc mộng. Là một phụ nữ vừa gìa vừa ế vừa nuôi một ông mèo cũng vừa gìa vừa ế (do hoạn rồi, mất ngọc rồng sung sướng rồi, anh méo có cần cái gì nữa ngoài ăn như heo), y thị đưa ra kết luận: hôn nhân có thể tiến triển rất tốt hoặc rất xấu, chả ai thực sự biết thế nào thì hơn, nhưng mà cái đó đó (rất tốt hoặc rất xấu í) không bao gìơ cùng đi một hướng hớ hớ hớ :v
Câu chuyện của Nàng mèo không có gì đặc sắc, nhưng tại sao tôi lại đọc tiếp luôn một quyển khác cùng tác gỉa Colette
Vì: 1, tâm lý nhân vật nam được xây dựng lạ lẫm so với những nhân vật nam tôi từng biết. Tôi thích nhân vật này, nhất là bộ dạng bị kết án của anh ta kể từ lúc chuẩn bị cưới đến khi "đang trong hôn nhân", một bộ mặt bị kết án khiến tôi tò mò
2, giọng văn của Colette viết về mèo, về tình bạn người và mèo, về khu vườn, cây cối, ánh trăng... qua  con mắt của nhân vật nam chính rất  gợi cảm, đôi chỗ đọc mà tay phải mơn man trên sách như vuốt ve vì độ gợi cảm của nó, cứ như thể nam chính yêu con mèo như yêu một nàng tên Mèo :*
3, Nàng mèo vỏn vẹn có hơn 200 trang thì dịch gỉa Phương Quỳnh dành 50 trang cuối sách, có tham khảo các nguồn để viết về Colette, vì đọc 50 trang này mà tôi đã rất tò mò về Colette, và có ngay câu trả lời tại sao bà ấy có thể viết về khu vườn, các cây hoa, loài mèo như chúng đang ở ngay trước mắt bà, và đặc biệt, sao bà lại xây dựng được nhân vật thoát khỏi lối mòn như thế :)
Chắc là cũng có duyên với sách ế thật, nên đang lúc đọc dở Nàng mèo, đi ngoáy sách cũ lại gặp luôn Chừa yêu, bản dịch của bác Huỳnh Phan Anh. Tôi gần như không biết gì về dịch gỉa HPA nhưng như những gì tôi để ý thì bác HPA chịu khó dịch các tác gỉa mới với mảng văn học dịch, dịch những quyển không mấy nổi của tác gỉa ấy... nó được xem như hình thức đất vỡ hoang, tôi trân trọng những việc làm như vậy.
Chừa yêu cốt truyện lan man hơn Nàng mèo nhiều, cái may của tôi là đọc Nàng mèo trước nên có 50 trang về Colette, nhờ đó khi đọc Chừa yêu nhận ra rằng những chi tiết trong con người cá nhân của Colette được bà đưa hết vào tiểu thuyết thành nhiều con người trong trang sách, gần như cá tính, sự kiện, những nỗi buồn, thất vọng, ước  muốn, cô đơn, mệt mỏi, sự bướng bỉnh... của bà đựơc đưa hết vào sách qua các nhân vật nữ; những sự kiện lưu dấu ấn của bà trong dư luận cũng vậy nhưng được bẻ lái và không ai thực sự biết sự thật có đúng như dư luận hay không, hay sự thật nằm ở trong chính các tác phẩm của bà (chuyện có quan hệ đồng tính, chuyện yêu con riêng của chồng, chuyện những mối tình giằng xé, chán chường, phi luân theo quan niệm thời kỳ ấy...)
Colette là sự kết hợp của hai nhân vật nữ trong Chừa yêu: Annie nổi loạn khóc vì những thiếu vắng, nô lệ cho thân xác của chính mình, luôn luôn chọn sẽ đi, đi để tiếp tục tìm kiếm đam mê cũng như sự bội bạc  và Claudine, nhân vật xưng tôi, sẵn sàng sống với hình ảnh lụi tàn của mình một cách kiêu hãnh dù sự kiêu hãnh ấy phải hứng chịu trọn vẹn sự cô đơn.
Đọc sách ế là một sự kiên nhẫn đến lì lợm, thế còn người đọc những dòng viết linh tinh về sách ế thì sao :p
chắc chắn là dị nhân :v
g9world <3 p="">

16.4.17

xung động ăn cắp

Quyển sách đầu tiên tôi lấy trộm là năm lớp 6. Từ nhà tôi đi bộ ra nhà sách rất gần, nhà sách cũng chính là nơi tôi thích đến nhất. Bố tôi rất nghiêm khắc, ông dạy chúng tôi như thể lũ trẻ này đang sống trong môi trường quân đội. Không thể có những việc sai trái như ăn trộm/cắp, nhưng rồi thực tế đấy, tôi đã làm chúng, một thời gian dài. Việc làm này diễn ra lần đầu, không hề có lý do cụ thể. Tôi nhìn thấy quyển truyện cổ tích ấy và muốn thử lấy nó, không một chút nào nghĩ tới hậu quả. Ra khỏi nhà sách, không ai biết quyển sách đã bị lấy trộm, tôi như có một bí mật vô cùng lớn. Một thế giới của riêng mình tôi, chỉ có tôi biết, tôi hoàn toàn tự do trong thế giới ấy. Tôi lặp lại việc này nhiều lần, sách, đồ chơi nhỏ nhỏ xinh xinh, từ điển...trang phục tôi thích nhất khi đánh xoáy các món là chiếc áo có mũ (đến giờ tôi vẫn đặc biệt thích loại áo này), rất dễ dàng, nhét vào mũ và ra khỏi cửa, thản nhiên như không, âm thầm sung sướng và hồi hộp cho một phi vụ nữa.
Rồi tôi cũng bắt đầu bị mất sách, các món đồ chơi bị thất lạc. Tôi hiểu tôi bị mất gì đó là như thế nào. Lần bị giật mất cặp xách trên đường, vào một ngày trốn học. 3 cậu choai choai ấy đã dùng chính cái cặp của tôi để che biển số xe Dream, phóng lên cầu và cười sảng khoái. Tôi vui cỡ nào khi thành công trong việc trộm sách thì 3 cậu choai ấy cũng vui vậy đó. Độ tuổi ấy, tôi vẫn thó sách và đồ chơi, nhưng ít hơn. Càng muốn trốn tránh thực tế, tôi càng bị hút vào việc lấy trộm. Phải đến khi học điều dưỡng, môn Nhi, đi thực tế khoa Nhi, tôi bắt đầu biết yêu trẻ nhỏ. Vì yêu nên mới tìm hiểu, lúc ấy thứ tôi quan tâm là tâm lý bệnh Nhi. Sau này, hai cô sinh đôi cùng cha khác mẹ với tôi, cũng mắc chứng xung động ăn cắp này, rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân thấy rõ nhất của hai em là việc bị cha mẹ bỏ rơi. Tôi không bị vậy, nhưng từ nơi nào đó, tôi thấy lạc lõng với cha mẹ, nên hiểu, vì chúng sẽ có cảm giác của việc muốn một thế giới khác, muốn làm điều ấy để nghĩ chúng có khả năng thay đổi thực tế, có khả năng có được điều chúng muốn. Nhắc nhở, bảo ban...dù biết sẽ vẫn tái diễn, việc làm ấy thưa dần thưa dần, cho đến khi trưởng thành hơn, rồi sẽ chấm dứt thôi. Tôi nghĩ vậy.
Sau này, cửa hàng của tôi cũng đôi ba lần mất cắp, tôi nghĩ về vòng tròn luân hồi nhân quả. Tôi phải nhận lại những gì tôi đã gieo. Một cách thẳng thừng, cô sinh viên đi xe đạp mini ấy lấy món đồ của tôi, có thể vì quá thích mà tiền không đủ hay cần nó cho việc làm thêm. Cây son dùng thử của tôi đáp ứng tâm lý hoảng loạn của phụ nữ lần đầu làm mẹ. Ipod của tôi mất vì tôi đã tạo cơ hội cho hai ông tướng ấy nảy sinh lòng tham...
Mỗi khi nghĩ lại việc mình từng ăn cắp như thế nào, tôi hay tủm tỉm cười. Việc làm ấy ở thuở bình minh cuộc đời là một việc khiến tôi vui vẻ. Tôi không quan tâm tới hậu quả, tuổi trẻ ngông cuồng và rồ dại. Nếu lúc ấy có một ánh sáng dù nhỏ thôi, cũng đủ nhen nhóm thế giới tối đen trong tôi, có thể nó vẫn tối, nhưng không tồn tại lâu. Theo thời gian, nó sẽ tự khép lại, như bao thế giới khác trong chúng ta, mở ra và khép lại. Không có gì đáng lo. Nếu có ánh sáng thì chỉ nên là một thông điệp. Đừng trừng phạt vì nó có thể rất buồn, một vết thương lần hồi, làm cách chi thì cũng sẽ ở đấy, tấy đỏ và sẹo lồi chằng chịt, thế giới ấy đóng sập lại, càng tối đen hơn, góp thêm một điên rồ vào đám đông điên loạn, không ích chi.
Bệnh dịch buốt lòng. Thời tiết sốt ruột.

160414

10.4.17

Trẻ em trong ngọn lửa chiến tranh




Trẻ em trong ngọn lửa chiến tranh của họa sĩ Nhật Bản Chihiro Iwasaki, rất ít chữ, tranh sử dụng chủ yếu màu chì trung tính, tối giản nét vẽ nhưng người đọc có thể cảm nhận đôi mắt ngây thơ buồn, đôi môi hồng đã từng vui cười và trái tim trong sáng của trẻ em in hằn lên cánh hoa Anh thảo đỏ nở quanh phòng tranh của tác gỉa như đang thì thầm thổn thức "Cuộc đời chúng mình chỉ biết có chiến tranh"
"Trong ký ức bọn trẻ chỉ có
Máy bay B52
Rừng cây cháy trụi
Máy bay "Thần sấm"
Lửa cháy rừng rực
Làng xóm tan hoang
Con tắc kè chạy trốn
Cây dừa gẫy gập"
Quyển sách được xuất bản trong chương trình hợp tác của quỹ tưởng nhớ họa sĩ Chihiro Iwasaki và Nhà xuất bản Iwasaki. Tất cả nguồn lợi từ việc bán sách được dùng để hỗ trợ những trẻ em Việt Nam nạn nhân của chất độc màu da cam.

4.4.17

M là ai

Bài này M viết đầu 2007, lúc í mình và M chưa gặp nhau hoặc rồi mà mình không biết, vì yêu nhau 5 năm, 5 năm sau ngày M mất thì mình mới biết mình là người thứ 3 mà mình không hề biết gì. Người phụ nữ kia cũng vì nhớ thương mà tìm từng mẩu kí ức, nhờ đó tìm ra mình. Với mỗi người M vẫn là M nhưng dưới căn cước khác.
Từ cuối năm 2016 biết được việc này, mình cũng lần từng mẩu kí ức, ghép lại để biết thực sự thì mình đã yêu một người như thế nào, ai thực sự đã chết :(
Lâu lắm rồi không buồn, mình tưởng rằng ngày mình biết M yêu không chỉ mình mình là ngày buồn nhất, nhưng hóa ra không phải. Vẫn chưa biết buồn nhất là khi nào và đến bao giờ
Đọc cho lắm trinh thám vào Lốc ngu ạ :)))
-------------
Poverty at Vietnam

Poverty Alleviation of Noong Con Village, Lau Chau Province, Vietnam
Noong Con is an isolated rural village located in a mountainous area in the Lai Chan Province of Vietnam, which is about 50 kilometers away from other communities. Since the mountains are barren, soil is infertile and water is scarce. Rain is the main source of water supply for human consumption and agricultural production. Rainfall is seasonal which starts from March – June and August – November. 
The villagers only grow corn, which is mainly their food. Their corn harvest is low because of their infertile soil and low rain water supply. They do not grow rice, vegetables and fruits to supplement their corn food. Once in a while, they go out to far away markets to barter left over corn for some salt, sugar and other simple goods. 
Naong Con’s three villages is comprised of about 60 families, with each family having 10-12 children. Because of poor nutrition and high disease incidence, there is high death mortality. It is for this reason that parents desire to have big families. 
Since the community is settled in between mountains, the people do not have infrastructure facilities such as roads, electricity and radio communication. It takes about two walking days to reach the area. The isolatedness of the community is aggravated by the villagers’ inability to speak the Vietnamese language. The villagers use an ethnic language that is not easily understood. There are some village leaders though who can understand a bit the Vietnamese language. They are the middlemen for communication with outsiders.
Apparently, the villagers’ literacy is poor. There is no education program of the community. Another besetting problem is behavioral in nature. Generally, there are problems of laziness and alcoholism. Agricultural labor and other hard works are done by only a few more industrious women. 
The Vietnamese government initiated health, economic and health programs. One water well and toilet facilities were installed in each of the three villages but these were not used. The literacy program was not successful due to language barrier. Another development program was the giving of money loans for some economic activities, but this too failed because the villagers only practice barter economy.
This project conceptualizes an integrated community development program to address the holistic poverty causes of Naong Con village. As shown by the results of initial rapid rural appraisal, there are problems on health, literacy, infrastructure facilities and social behaviors. A participatory approach is deemed necessary in order to reduce resistance of the villagers on development program initiatives.


It comprises three small villages with 60 families and having total population around 600 people. This village is about 50 Km away from the other communities and the villagers depend on agricultural activities of corn growing. Since this is rural and mountainous area where people live in between mountains so that they do not have proper infrastructure facilities such as roads, electricity, radio etc. Since these are barren mountains the soil is infertile and water availability is very low. Therefore people tend to grow only corn which is their main food source. These mountains are lack in water sheds so that villages get water mainly from the rain. The rainfall is seasonal which starts from March up to June and August to November. After the harvesting season they usually have festivals of New Year for long period. These people use their own ethnic language and they can not speak Vietnamese language. They have village leaders selected among the community by whom they will communicate with the outsiders. This community members do not use money because they only have goods exchange system from far away markets.

The villagers of this community are suffering from extreme poverty because of poor health, no proper agricultural system, illiteracy, lack of infrastructure and various social problems.

Since these people consume only corn as their main meal, majority suffer from nutritional problem. Due to the low maternal nutrition, infant mortality rate is also very high. The literacy rate is very low among the community because they do not have a school or any other education source in the community. Even though, they engage in agricultural activities, they do not aware on modern technology and the integrated farming methods. In addition, they have social problems such as laziness, drug addiction of male and only women and children are engaged in the hard work.

The government extension officers and health officials have already started several development programs in the community which were unsuccessful, mainly due to communication problem. They have started a project to introduce water wells for the quality water, but these villagers are reluctant to practice that system because they rely on their own way.

Considering above, for alleviating the poverty of this community, health status, literacy, infrastructure and social status of the people should be improved. The most important in this process is to reduce the gap of communication by training the selected people from the community. Thereafter a joint programs of government and community can be conducted by introducing various development programs such as introduction of integrated agriculture, provision of agricultural technology, nutrition and health promotion, informal education, instilation of infrastructure and awareness for the social development.

11.3.17

Khu vườn nội tại



Thế nào, hôm nay mình thế nào? Là phụ nữ, có chồng có con là những việc nhất định phải làm trong đời à. Nếu có tí nhan sắc và giữ được nét xuân, ôi dào cuộc đời lắm người chữ nghĩa địa vị (cũng) sẽ cay nghiệt ngoa ngoắt quen thói má hồng đánh ghen bảo: không chồng không con thì trẻ trung xinh đẹp để làm cái gì; hay là nghiệt khẩu: dạng kén cá chọn canh cho lắm, đôi ba tuổi nữa loanh quanh lại vớ phải đống kức... Nếu mà lại kém nhan sắc, tính tình ảm đạm hoặc chành chọe thì thiên hạ có bao nhiêu của ngon vật lạ để chửi để tọc mạch để ném về phía bạn thì bạn sẽ nhận đủ cả. Thế nếu mình lựa chọn không chồng không con cái thì tức là mình đang đi một con đường bệnh họan dở hơi phỏng, trong khi khu vườn nội tại của mình hết sức bình lặng. Tưng bừng tiệc, đàn người người gảy, rượu ta ta uống, uống liệu đã vơi bớt rượu của mình, mà đã lo bình rượu cô độc của thế gian :). Khu vườn mình đang yên bình như thế, tốt hơn hết là cứ đóng cửa bỏ mặc loài ngừơi ngoài kia tò mò đoán định tọc mạch, còn nắng mưa bão táp là chuyện của trời, tàn phai là chuyện của thời gian, nếu không có tàn phai thì rốt cuộc thời gian là vô nghĩa phải không. Chuyện gì cũng vậy, bệnh tật, tàn phai, sang hèn, vinh quang, buồn vui sướng khổ... trong kiếp nhân sinh là chuyện thường tình thế thôi mà.


Bạn có hay một mình tự nói chuyện như tôi không
Việc ở một mình này nhất thiết nên có một lát trong ngày à
Như thế người ta gọi là cô đơn
Cô đơn xấu à, hay đẹp, lợi hay hại, có làm ta hóa điên không
....
Nếu bạn thích đánh đu chơi bời với tiếng nói, con chữ trong đầu mình thì có thể tập truyện ngắn Ngày mười tháng mười hai của nhà văn Mỹ George Saunders là một lựa chọn khai vị không tồi. Chỉ gồm 10 truyện ngắn với dung lượng rất vừa phải, tôi kết thúc nó khoảng 10-12 ngày trước, tôi đọc vì muốn kiểm chứng. Cho linh cảm người đọc của mình. Cô A cứ khen thì kiểu gì tôi đọc cũng thấy không trôi được, mà nếu cô ấy bảo đọc không hiểu, thì tức là tôi đọc có thể ổn; chỉ cần qua truyện ngắn đầu tiên thì tôi hiểu ngay tại sao cô A không hiểu, vì đây là phong cách viết nhiều tiếng nói nội tâm, các nhân vật thích trò chuyện trong tâm trí họ bằng những tiếng nói bí mật, bằng những tưởng tượng, những hoài niệm hay những đoán định tương lai và nếu ngừơi đọc chọn đọc vào thời điểm căng thẳng không yên được, hay đơn giản bạn là đối tượng ưa đọc cái gì cầm nắm trong tay được, ưa ăn xổi thì kiểu gì cũng nhiễu loạn, đọc tới gần hết sẽ phải dở lại đọc lướt từ đầu và giữa chừng, đọc gần hết và bị nhầm các nhân vật...
10 truyện ngắn với giọng văn thay đổi lúc trẻ thơ-gìa nua, lúc tuyệt vọng-phơi phới, lúc tò mò-lo lắng khi vui tươi; thậm chí ngay trong một truyện ngắn tác gỉa chuyển giọng các nhân vật, cắt lát các tình tiết cũng rất nhanh; không gian - thời gian của truyện vừa như ngay lúc này vừa vị lai; cách triển khai diễn tiến câu chuyện xoáy vào các chi tiết rất đỗi thường ngày, có thể nói bắt gặp nó trong mỗi gia đình, mỗi cá nhân. Khi đi được 1/3 tập truyện tôi bị thuyết phục rằng thật là phí nếu bỏ qua tập truyện này; đi được 2/3 thì gặp phải tính tất yếu của (gần như tất cả) các tập truyện ngắn: là có những truyện thực sự yếu ớt, lỏng lẻo, bị đuối so với các truyện khác; đi đến hết tập truyện thì cảm nhận rõ ràng nhất là tại sao luôn cảm thấy bị thiêu thiếu, hụt hẫng; phải ngồi nghĩ một lúc, điểm lại từ đầu các truyện ngắn thì mới chẹp miệng tiếc rẻ được đấy; mỉm cười vì nhận ra được rằng, George Saunders thật sự đặc sắc trong các chi tiết nhỏ, độc thoại nội tâm với các tưởng tượng, triển khai câu chuyện... nhưng tất cả bị đuối hoàn toàn ở cuối mỗi truyện, người ta gọi cuối truyện là một dạng nước đi kết, nước kết mà nhạt thì không làm sao mà thỏa mãn nổi, kiểu gì cũng như thiếu hụt một loại gia vị đặc trưng không thể thiếu, nhất định phải có của món ăn 
Cá nhân mình thích truyện Những cây cột, Cún con, Nhật ký cô gái Semplica, Nhà. Truyện ngắn mình tiếc nhất là Thoát khỏi đầu nhện vì cái kết vô cùng đuối của nó. Giọng văn dịch thích nhất trong nhóm dịch 4 người là Triều Dương.




8.3.17

Người có ở đó không ạ



Khoảng năm 2010-2011 có một quyển sách về tình yêu thương của (các) Đấng trên cao với con người cũng như việc con người nhìn nhận có (các) Đấng tồn tại hay không trong đời, rất chìm trong thị trường sách VN: Nơi trái tim hội ngộ (The Shack) của WM. Paul Young. Tôi cũng như phần lớn nhân lọai, vào những lúc tuyệt vọng thường tự hỏi (Các) Đấng trên cao (Đức Phật, Chúa...) có thật hay không? Và Người có thật thì tại sao lại để những nỗi đau này đến với nhân loại. Mỗi khi ở một mình, tôi hay nghe Hallelujah và khe khẽ hát như trò chuyện cùng ai đó và gần như thống thiết tiếng kêu yếu ớt rằng: Người có thật, Người luôn ở đó còn nỗi đau con người của con thì hiện hữu lúc này và nó luôn ở đây; có một khoảng cách và độ vênh, Người có kế hoạch gì khi để nỗi đau này đến...

Đọc quyển sách này vào năm ấy, năm 2012 là cách tôi nhắc nhở mình rằng dù minh triết hay ngu muội, có độc lập và làm chủ đời mình theo cách nào đi chăng nữa thì đứng trước Người, tôi cũng thật nhỏ bé, ngạo mạn, nhiều sai lầm và đến đây thì điều kêu than bỗng trở nên thừa thãi, nỗi đau mà tôi phải gồng gánh là ở chính mình mà ra, Người luôn ở gần nhưng ta có để Người bước vào đời ta hay không mà thôi, chỉ cần mở cánh cửa thì lúc đó, các Đấng là sự yêu thương, vỗ về an ủi, chữa lành và tha thứ. Cũng chính từ ấy, với lòng yêu kính Đấng nào đấy trong mình, tôi biết chấp nhận và qui thuận thế giới.

Hôm nay tính đi xem phim nên mới biết ngoài rạp đang chiếu The Shack, mà tìm sách thì không thấy, tra danh mục sách ở dropbox cũng không có mà chắc chắn là mua từ hồi nó mới xb và ế chỏng, không biết ông bà nào đang cầm sách của em hay là mất xừ nó rồi. Có nên xem phim này không ta :)

26.2.17

Bựa Mèo [2]



Nghe đồn rằng bọn ở với chó mèo lâu ngày sẽ nhiễm bệnh Bựa Chó Bựa Mèo nếu không được dùng thuốc phơi nhiễm bệnh[…]. Biểu hiện bệnh là thường thích đồ cọc cạch: đi tất cọc cạch, đi giày cọc cạch, nếu quần mỗi ống một màu thì bọn nóa cũng chơi luôn không ngán; thứ nữa là thích quần áo kẻ vằn vện như anh em nhà Daltons vì bọn chúng cứ nghĩ mặc như thế thì sẽ khoác lên người bộ lông vằn vện của chóa của mều (một cảm giác vô cùng khoan khoái mềm mại dễ chịu), dù thật, nhìn cbn, mèo khác gì bộ quần áo tù, hay áo mà đã kẻ ngang thì nhất định quần phải kẻ sọc mũ kẻ caro còn tất phải chấm bi giày phải cọc cạch hoặc trộn lên thành bộ quần áo nham nham nhở nhở bôi bác choe choét (cbn chứ, một bọn rồ thứ thiệt); và biểu hiện cuối cùng là biểu hiện phổ biến và đặc trưng nhất, đó là mặt lúc nào cũng ngu như thằng mèo đứng giữa trong ảnh, tức là đại ka đang cáu chởi: tiên nhân chúng mài, bố bảo trật tự xếp hàng không chen lấn cơ mà, thì bọn Bựa thường thường mẹt vưỡn ngu như độ C của lõi mặt zời và ngoạc mỏ gào to: đại ka, đại ka, đại ka chởi em ợ... Nhìn chung những biểu hiện bên ngoài diễn ra tương đối dễ nhận. Còn về tâm lý, ban đầu thường có tính chu kỳ như trầm cảm mùa xuân (kiểu vài ngày zời nồm), nhưng càng về lâu dài tần suất càng cao dẫn đến trầm cảm bốn mùa hoặc trầm cảm quanh năm (không bỏ thừa ngày mèo nào); bên cạnh đó chen ngang bằng những cơn hưng cảm như phê cần, ai da da phê pha tăng động như chơi cỏ. Có thể nói, ở người, đây là rối loạn lưỡng cực còn ở chó mèo tạm ghi là tài-liệu-sức-khỏe-tâm-thần-chưa-công-bố-của-bệnh-Bựa Chó Bựa Mèo 
[...] thuốc phơi nhiễm Bựa Chó Bựa Mèo: thuốc đơn giản thôi, tuần hoặc tháng lấy vài lần quay về với bọn Bựa Nhân hoặc một bọn đông đông nào đấy đủ đông để mất khả năng tư duy]