Over and over I whisper your name. Over and over I kiss you again
TT&NT

11.4.26

sinh học xã hội




Về bản tính người là công trình sinh học xã hội của nhà sinh vật học và tự nhiên học người Mỹ Edward Osborne Wilson; sinh học xã hội nghiên cứu có hệ thống về cơ sở sinh học của mọi hình thức tập tính xã hội ở các sinh vật, trong đó có con người. Nếu hiểu sinh học xã hội là lý thuyết cho rằng hành vi con người được quyết định bởi các gien hoặc ít ra, chịu ảnh hưởng lớn từ các gien - sinh học, chứ không phải học tập, nhận thức - ý thức mà có... thì cũng không sai. Cái gì còn tồn tại qua các đợt biến chuyển thì hẳn là nó phải cần thiết, phải đủ mạnh thì mới còn tồn tại, những cái khác dần được điền vào di sản sinh học [cái còn lại luôn mang theo các câu chuyện về cái trở thành di sản]

nhưng con người lại có những nan đề, như David Hume đặt ra: tinh thần của con người hoạt động như thế nào, tại sao nó hoạt động theo cách này mà không theo cách khác, rốt cuộc, bản tính tối hậu của con người là gì

là người, thì có cần hiểu bản tính người không, hay cứ tự nhiên để thực nghiệm mở mắt cho chính mình nhìn mình và mắt mình mở to nhìn xã hội người. Dẫu vẫn biết người là những khối phức hợp môi trường, gien - sinh học tác động tới hành vi xã hội; không hành động, ý chí nào thoát được tự nhiên, gien, và hiển nhiên của ý niệm mênh mông mang tên định mệnh... nhưng, tại sao tôi vẫn dùng mấy ngày tâm trạng chán mớ đời này để đọc một quyển sinh học xã hội đau đầu trong khi biết rõ không có đâu, câu trả lời rõ ràng cho các nan đề; và, tại sao lại cần câu trả lời. Là tôi đang không đầu hàng hả, tôi đang chấp nhận thách thức để tiếp tục khám phá và giải quyết các nan đề làm người à. Thật cố chấp, đau hết cả đầu [may mà lúc này tôi đọc luôn, vài năm nữa chắc tôi vứt luôn chứ đọc gì; tôi phải thực sự kỷ luật với việc giữ sách gì quanh tôi]

xong rồi chiều nay đọc nốt quyển Vườn thú người [hôm qua đọc Vượn trần trụi, đều của nhà động vật học người Anh Desmond Morris; tác giả Về bản tính người và tác giả bộ đôi vượn trần trụi này same same tuổi nhau, 1929 và 1928], nó đúng quan điểm tôi vẫn luôn nghĩ, rằng môi trường sống hiện nay của con người, cái được cho là văn minh, phát triển tinh tế, thậm chí còn không giống một khu rừng nhiệt đới bằng bê tông như được ví von, mà giống vườn thú người nhiều hơn. Cuộc sống đô thị, man rợ được bọc nhiều lớp giấy thơm để trở thành văn minh thay đổi tập tính con người thế nào; tất nhiên mức độ văn vở ấy của xã hội thì con người sống trong nó làm sao lại không gia tăng bạo lực và lo âu được. Còn cần tìm nguyên nhân sự căng thẳng giữa cấu tạo sinh học hay những gì thuộc về sinh học và văn hoá, ý thức của chúng ta hay sao

nhìn con vật người - vượn trần trụi trong tình yêu, công việc, chiến tranh... với tất cả những gì nền tảng nhất của nó: các tập tính chịu ảnh hưởng của gien sinh học, của quá trình phát triển từ các di sản sinh học - là họ hàng của con vượn. Bóc tách nó khỏi mác văn minh khoác các lớp ngoài, ta nhìn nó ăn, ngủ, tán tỉnh bạn tình, yêu đương, giao tiếp xã hội, làm đỏm tô vẽ bản thân, chơi trò chơi gia đình, trò chơi quyền lực thống trị và chiến tranh... quyển sách không cho thấy con vật người từng ở thiên đường, bị đuổi khỏi thiên đường, là thiên thần sa ngã - không đâu, đấy là ý nghĩ của ta trong một chuyển động lãng mạn thôi, khi trong bầu không khí văn chương chẳng hạn; nó chỉ cho thấy một con vượn tiến hoá, lên ngôi, dẻo dai như cái nhìn của Darwin, thêm các giọt nghị lực và tưởng tượng nữa. Đấy chính là con vật người - vượn trần trụi

đến đây, quay trở lại quyển đầu tiên tôi đọc và nỗi đau đầu của tôi; tại sao, tại sao chứ, con vượn trần trụi này rốt cuộc có nguồn gốc như vậy, sống trong xã hội mà nó dựng nên như vậy, thì tại sao tôi cố chấp cần hiểu, cần các lời bủa ra khi các nan đề về con người, được nghe thấy
thật sự ngu si 🙂 [Milan Kundera nói rồi mà]

ps. quả tình là khi viết ra những gì lởn vởn trong đầu, tôi qua cơn chán mớ đời thật; dù tôi biết, ngay sau đó, rồi tôi lại chuẩn bị vào phase chán mớ đời tiếp và tiếp. Có chơi có nghiện, có nghiện có chịu 

10.4.26

avoidant



hạn chế, tránh gần gũi người khác, giữ khoảng cách các mối quan hệ, thoải mái hơn khi ở một mình, sợ kết hôn sợ sinh con vì sợ trách nhiệm sợ sự hiện diện luôn luôn của người khác bên mình, nhạy cảm... điển hình của nhân cách tránh né. Type người này dường như đang phân nhánh một loài mới từ nhân loại đã tồn tại bấy lâu

niềm an ủi của những người này là chìm vào việc đọc những thế giới tưởng tượng do người khác viết ra. Hay là, công việc phù hợp với họ là ở một mình trong căn phòng, để viết, thế giới mộng tưởng mà họ thoải mái một mình, không thấy phiền hà, thay thế cho thế giới hiện hữu mà họ luôn cảm thấy bị gánh nặng phiền toái tròng vào cổ. Một nơi chốn nữa là nơi tránh xa thế gian, đi tu, chẳng hạn thế; lên núi chim kêu vượn hót, hay ra đảo uống nước dừa với khỉ, đều tốt, miễn là ít người, càng ít càng tốt. Một nơi nữa kết thúc mọi phiền toái mà nhiều người thuộc type này đã chọn [thành công hay không, còn trông mong ý chí của các Đấng]: tự giết mình để đi đến chốn không còn sự sống khác, chỉ có địa ngục khác

những trường hợp tôi biết điển hình nhân cách tránh né [tôi biết, nhiều người sẽ nói, chẳng phải tôi đang trỏ chính tôi hay sao]: Kierkegaard [trong tình yêu, Nhật ký kẻ mị tình là bằng chứng, đi tìm một ảo mộng trong tâm tưởng] và Hermann Hesse [trong cách phản ứng với người mẹ]

sách này không phải của tôi mua đâu, của bạn A. đấy; tôi là type người lãnh đạm, không care đến chính những vấn đề tâm lý, tinh thần mình đang có; nhận thức có nó, nhưng không tìm cách can thiệp, cũng không cố làm nó thoái lui... đơn giản là kệ thôi. Phương châm như lời thề ngành y mà tôi hiểu là 80% tự khỏi, 20% là đừng cố làm nó trở nặng. Thế chẳng phải chữ kệ mới tuyệt làm sao sao 🙂

9.4.26

ngược



cầm sách bạn gửi cho đọc từ mấy tháng trước nhưng đến tuần vừa rồi tôi mới mở Ngược gió ra xem, trong lúc đang chuẩn bị đọc nốt Đỗ Thúc Vịnh. Khi mở Ngược gió ra, thấy trang lót ghi hồi ký, mở vào bên trong, đập ngay vào mắt là Tôi [tác giả: bà Thiếu Mai] chào đời 1917 tại đất Thăng-Long ngàn năm văn-vật... liếc mắt xuống dưới, lại thấy "tôi" lớn lên ở một ngõ nhỏ kẹt giữa phố Hàng Gai và phố Bờ Hồ - là ngõ Hàng Hành etc. ngay tức thì, tôi buột miệng nói cho chính mình nghe: hồi ký mà lại khu vực Bờ Hồ, Cột Đồng Hồ à, hay lắm, phải đọc thôi, may mà ông í gửi cho mình :))) [thank youuu :)]

hồi ký Ngược gió của bà Thiếu Mai [chồng là ông Hùng, nên bà lấy tên là bà Vũ Bá Hùng, tự Thiếu Mai; tên thời con gái là Hòa; về sau khi hoạt động phản gián, bà có tên TV - Tường Vân] được bà bắt đầu viết vào giữa năm 1970, có một quãng ngắn vài tháng ngừng viết vì hơn 10 dây chằng đầu gối đứt, phải phẫu thuật, bình phục, bà viết tiếp, hoàn thành vào cuối mùa thu 1971. Nhắc đến quãng dừng kia, vì nó cũng chia cuốn hồi ký gần 550 trang này thành 2 phần tôi thích và không thích rõ rệt

phần tôi thích, ngay từ đầu thôi thúc tôi đọc, là tôi muốn biết cuộc sống của những con người khu phố cổ Hà Nội vào những năm đầu thế kỷ 20, nhất là bọn trẻ con thời ấy học những cái gì, chơi gì, ăn gì, chửi nhau đánh nhau ra làm sao etc. Tiểu thuyết đã đọc cho biết điều tò mò này qua các mảnh các chi tiết nhỏ, nhưng hồi ký thì càng đáng tò mò hơn chứ. Và đúng mong đợi, phần này bà Thiếu Mai kể rõ mồn một như hiện ra trước mắt đường phố, các ngõ, ngõ Hàng Hành bao nhiêu nhà, bên chẵn bên lẻ số bao nhiêu đến bao nhiêu, mỗi bên bao nhiêu gian nhà... bọn trẻ con đi học thế nào, các ông giáo ngày xưa ra sao, về nhà phải học thêm mỗi ngày 1 giờ chữ Hán do thày [thày - bố] dạy thế nào, trung thu những món gì, leo cột mỡ có đúng câu vè tham tiền cột mỡ, rủ nhau phá Tây lông ra sao... rồi thì các ông rủ nhau chơi tổ tôm vẫn câu, như đến tận giờ người ngoài Bắc hò nhau đi chiếu bạc, đại để: đủ chân chưa :)))

đấy là phần tôi thích nhất; đến giai đoạn bà Thiếu Mai khoảng 14-15, năm 1931, biết dịch thơ, rồi viết lách đăng báo, quen Tú Mỡ, Thế Lữ, Vũ Trọng Phụng... thì tôi bắt đầu không còn hứng thú ban đầu. Bắt đầu từ giai đoạn bà Thiếu Mai viết thư xin làm việc cho Pháp - mà như thày/bố bà nói ban đầu "đã chống Pháp rồi nay lại theo Pháp", từ đây là tôi bắt đầu không còn thấy hồi ký này thu hút như trước nữa. Bà Thiếu Mai làm trong bộ phận phản gián của Pháp, rồi một người Việt làm trong tình báo của Nhật đã báo trước cho bà về lệnh thanh toán trừ khử và xin bà biến mất khỏi mắt ông ta... thế là chạy vào Saigon, vẫn tiếp tục vai trò cũ, lấy chồng và lại gặp lại người tình báo Nhật kia lần nữa, ông ta lại mong bà biến mất cho khuất mắt ông ta vì lần này chỉ thị chỉ cho 5 ngày để thanh toán [đoạn này có một chi tiết tôi lác mắt, đại để bà Thiếu Mai đòi chồng, cùng nhau vào sòng bài Đại Thế Giới xem cho biết trò đỏ đen làm người ta hóa rồ (để khuất mắt ông tình báo kia, còn đọc mảnh giấy ông ấy đưa), thế là ở đây có chi tiết, một bà chơi thua tới độ, chạy ra hàng cầm đồ ngay đấy, cởi cái quần đen ra để cầm cố, giữa chốn đông, cởi quần ngoài ra cầm cố, trơ ra bên trong một cái quần dài mặc lót màu trắng (chắc là cháo lòng)]... rồi etc. etc. nói chung, cái pha thấy may nhất là, từng làm phản gián cho Pháp, tưởng rửa tay gác kiếm làm dân thường rồi thì lại bị Nhật ép phải làm gián điệp cho Nhật do 1 tay VN làm cùng chỗ Pháp kia chỉ điểm [tay này vốn của Nhật cài vào nằm vùng ở phía Nam] đang vào thế lưỡng nan thì thoát kịp bởi một lý do rất may mắn: tay chỉ điểm kia hóa ra là điệp viên hai hàng - điệp viên song trùng: vừa gián điệp cho Nhật, vừa bắt tay với quân Đồng Minh, thế nên tay chỉ điểm này lộ thân phận là lo thoát thân luôn, chính thế vị tướng Nhật kia cũng chẳng còn nhớ đến đầu mối TV - Tường Vân bà Thiếu Mai mà tay chỉ điểm gợi ý

rời Saigon vào tháng 10/1945, ở Hà Nội và các vùng công tác, cùng chồng "Hùng của tôi" làm kinh tế phát đạt dẫu tình cảnh rối ren, cho đến 1954, như nhiều người Bắc di cư Nam, vợ chồng bà Thiếu Mai cũng lên đường vào Nam. Đây là đoạn nói với Bác sĩ Tuyến, năm 1959 - Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị xã hội, còn được biết với biệt danh Trùm Mật Vụ, khi bà Thiếu Mai bị kéo vào sự vụ Hội Duc - Anh mà theo lời Bs Tuyến thì đây là chỉ thị của Tổng thống và bà Cố Vấn ảnh hưởng an ninh quốc gia; đoạn này nói quan điểm và lý do dẫn đến quyết định di cư 1954: "sở dĩ ông cũng như chúng tôi từ miền Bắc và miền Bắc Trung - Việt dắt nhau vào đến miền Nam hằng được mệnh danh là "mảnh đất của tự do" nầy, cũng vì chúng ta không chịu nổi cái chế độ độc tài của bọn CS vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc..." Cuốn hồi ký có thể xem là dừng lại tại đây, cảnh cuối là vợ chồng bà Thiếu Mai gặp lại bs Tuyến với dáng thư sinh mặc áo trắng ngắn tay trong rạp chiếu phim và ông ta gật đầu mỉm cười...

cuốn hồi ký viết xong tại Saigon, cuối thu năm 1971 và bản in trong ảnh của nxb Đồng Nai năm 1972. Lý do tôi không thích 2/3 sau của cuốn hồi ký, đặc biệt là các đoạn đối thoại, các đoạn kể lại hành động của bà Thiếu Mai... đơn giản thôi, tôi không thích bà ấy, tôi nghĩ "chém gió hơi nhiều". Tiểu thuyết thì chắc chắn phải có hư cấu, từ lúc chất hư cấu tham gia, câu chuyện mới thành hình dáng tiểu thuyết. Không ai nói hồi ký thì không hư cấu, thậm chí nói ngay cho vuông, chính hồi ký của một người có nhiều thứ để kể thì lại càng hư cấu ác... nhưng liều lượng quá đà thì hẳn là chém gió rồi Ngược gió ơi

[thôi, tôi ngủ, lại 2r sáng rồi, có gì mai sửa typo]


8.4.26

slow

 


picture book Dạo bước với thời gian, H. tặng [thank youuu ❤️], như một niềm an ủi để tú kiên nhẫn đi qua mùa đông trong cảm xúc của mình. Món quà từ trước Tết - đêm nhạc cuối năm của Cầm, tú đọc ngay đêm í, hôm nay trước khi cất lên giá thì mở lần nữa ngắm tranh, vì picture book mà, rất ít chữ, có thể vì ít chữ, mắt tập trung vào màu sắc, nét vẽ và nhận biết cảm xúc của mình qua tranh... mà mùa đông muôn đời buốt giá có thể chịu đựng được hơn một chút

[sách do Slowbooks phát hành, đây là đơn vị làm sách tranh thiếu nhi độc lập tại Việt Nam, thúc đẩy sự tham gia của các tác giả, họa sĩ và nghệ sĩ sách tranh Việt Nam để tạo ra những tác phẩm có tính giáo dục và thẩm mỹ cao, với mong muốn tạo ra những tác phẩm sách tranh chất lượng tập trung vào chủ đề: môi trường sinh thái và hạnh phúc của trẻ em]


7.4.26

ĐTV

 


đọc Đỗ Thúc Vịnh là tình cờ; anh bạn sách tiện gửi quyển tiếng Pháp của Italo Calvino để cùng vừa tra từ vừa đối chiếu với bản dịch "bồi" cho Aventures, rồi gửi kèm mấy số vhnn dịch tiểu luận của Italo Calvino, thế nào lại ấn tiếp mấy quyển Đỗ Thúc Vịnh, nhồi thêm Ngược gió, à có quyển mình hỏi đích danh, bây giờ mới nhớ, quyển của Prosper Merimee. Vậy là lô này vào nhà từ cuối mùa thu vừa rồi, emi già ốm rồi mất, đọc trầy trật không xong, như người bụng không hẳn không đói, nhưng ăn thì không có cảm giác muốn ăn; cuối năm theo lệ, thường trả sách các bạn, nhưng không muốn trả khi chưa đọc, nên phải nhắn xin lỗi bạn trước, chán mớ đời quá mà

không biết tại sao lại ấn ĐTV cho tôi đọc. Trong 4 quyển thì thích Bóng tre xanh nhất, chắc nhiều người cũng sẽ thích như tôi, câu chuyện của nó điển hình làng quê Bắc bộ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, thân phận con người nói chung, đặc biệt là phụ nữ, sống không được là một con người; về sau, trong Những người đang tới, nhân vật Văn viết tiểu thuyết [đáng nên nói ở Mùa ảo ảnh, nhưng trong một đoạn viết hơi vụng ở Những người đang tới, ĐTV mới nhét vào qua mảnh hồi tưởng của nhân vật], một trong số đó có thể chính là Bóng tre xanh; Hường đọc chúng và diễn giải nó theo con mắt cùng thân phận đàn bà, dẫu Văn từ chối cái nhìn ấy, nhưng sau đó, cái nhìn táo bạo của Hường đã trỏ đến cùng điều khiến Văn sững người: một xã hội như vậy, lớp có tri thức đã làm những gì để xã hội khác đi, thái độ của lớp này là như thế nào

khi chuyển sang đọc Dì Mơ, thì ngay từ đầu đã biết đây là Mơ trong Bóng tre xanh của những năm sau đó. Nhưng đi chỉ mấy chục trang, lấy làm khó hiểu, tại sao ĐTV lại đặt Dì Mơ là Dì Mơ vì ở đây, Mơ không phải là điểm đến, không phải là một trong các điểm đến. Bóng tre xanh và Dì Mơ nên đổi tên cho nhau; thậm chí gộp vào nhau thành Bóng tre xanh - sự yên ả của làng quê phía Nam thành, ngay trước cơn bão lớn của dân tộc; hay Bóng tre xanh thành Mơ [Mơ thôi, lúc này chưa Dì Mơ được, tên truyện một chữ tên nhân vật vốn là cái đã quen mà] còn Dì Mơ thành Bóng tre xanh

Mùa ảo ảnh và Những người đang tới là mở ngoặc dài và thành đích nhắm chính của ĐTV với nhân vật Văn - đại diện lớp thanh niên tri thức. Văn từ Hà Nội vào Saigon, Nam bộ, rồi lại trở ra Hà Nội, về phía Nam thành như tìm độ tĩnh; không ngờ từ đấy lại khiến Văn không ngừng bỏ cuộc, vào lại Saigon... cho đến ngày hay tin: quân cách mạng vào dinh Gia Long. Đây là 2 quyển điển hình những gì tôi sợ: lịch sử, "có chiến tranh"
[thôi, phải nấu cơm trưa tiếp đã, có gì tí tiếp tục]

đương




Những người đang tới là phần 4, cũng là phần cuối khép lại series Bóng tre xanh - Dì Mơ - Mùa ảo ảnh - Những người đang tới


Những người đang tới là gần 10 năm sau Mùa ảo ảnh, lúc này Văn đã gần 35. Tiếp nối vào 2 năm 1945 - 1946 Mùa ảo ảnh, câu chuyện nhấn vào các mốc 45 - 46 - 48 - 54 và tại thời điểm 55, một lớp thanh niên tiếp tục loay hoay... cho đến 63


[buồn ngủ rồi, cuối cùng cơn ngủ đã tới; tắt đèn thì tỉnh, không ngủ được; bật đèn cầm sách thì buồn ngủ; cứ như vậy cả đêm thì hết quyển sách và 3r sáng rồi... ngủ thôi]

6.4.26

so, goodbye

 


trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, trước thời điểm Orhan Pamuk được Nobel Văn học 1 năm, khi được hỏi: Ông viết cho ai?

Pamuk nói: "khi đời mình không còn dài, anh sẽ tự hỏi câu ấy thường xuyên hơn. Tôi đã viết bảy tiểu thuyết [tính đến thời điểm cuộc phỏng vấn diễn ra]. Và tôi muốn viết thêm từng ấy cuốn nữa trước khi chết. Nhưng đời quá ngắn, sao cứ phải dành thêm cho nó? Thỉnh thoảng tôi phải ép buộc mình. Tại sao tôi làm những việc này? Tất cả chúng có nghĩa gì chứ? Trước tiên, đó chính là bản năng sống cô độc trong phòng. Thứ hai, đó là phần tính cách ganh đua rất trẻ con trong tôi luôn muốn viết một cuốn sách hay nữa. Tôi ngày càng ít tin vào sự vĩnh cửu của người viết. Chúng ta đọc rất ít các tiểu thuyết ra đời cách nay hai trăm năm. Mọi thứ thay đổi nhanh đến nỗi sách hôm nay sẽ bị quên lãng trong một trăm năm tới. Chỉ rất ít cuốn còn được tìm đọc. Hai trăm năm nữa, trong số sách thời đại này có lẽ chỉ còn năm cuốn sống sót được. Tôi có chắc mình có cuốn nào trong năm cuốn ấy không? Nhưng liệu đó có phải là ý nghĩa của việc viết văn? Tại sao ta phải bận tâm đến việc sách mình như thế nào sau hai trăm năm nữa? Tôi cứ nghĩ về những điều này và tôi tiếp tục viết. Không biết tại sao. Nhưng tôi không bao giờ dừng lại. Niềm tin rằng sách của mình sẽ có vai trò gì trong tương lai là niềm an ủi duy nhất để ta vui sống trong đời."
[đoạn dịch bài phỏng vấn trên của Phan Triều Hải trong Viết và đọc 2019: Không thể sống mà không viết; bài phỏng vấn này trước đó, 2013, đã in trong tiểu luận Những màu khác]

niềm tin... là niềm an ủi duy nhất. Tôi cũng không biết theo năm tháng, ở vai trò người đọc, những quyển sách nào còn sống sót trong nhà tôi, tức là, tôi còn đọc lại chúng, đọc lại đọc lại và đọc lại. 1 năm trước, tôi gói gọn, tôi sẽ chỉ giữ lại sách của tác giả các thế kỷ trước, sau ít nhất 2 vòng đọc có độ lùi thời gian từng vòng - họ luôn giàu sức sống và nhiều dinh dưỡng cho cơ địa tôi; thế kỷ 20, tôi đã nghĩ, có lẽ sau Thế chiến 2 độ 2-3 chục năm mà tác giả chưa viết bất cứ gì đáng, thì... thôi, tôi giữ mà làm gì, chỗ chỉ có như vậy, phải thật xứng một vị trí trong đấy. Tôi đã nghĩ thế, cũng chưa chắc rồi thế nào. Năm nay tôi phải giải quyết nhiều tác giả, một lần cho xong, không luyến tiếc và nhất là không hồ nghi nữa. Mà như thế thì, chỉ cần đọc

ps. hôm trước tôi gặp một đứa tiểu iêu, tôi mắng nó uống vừa thôi, môi nứt toác, tỳ báo động rồi, mắt thì vàng khè ra, uống ít thôi. Nó gật, bảo: thế uống nốt hôm nay thôi nhớ, mai nghỉ. Tôi đùa, thế không nghỉ đi thôi, lại còn uống nữa chắc. Rồi tôi nghĩ về thân tôi, cứ cho trung bình 3 ngày đọc 1 quyển, năm chắc 100 quyển, vị chi hết khoảng 2000 còn lại hiện nay trong nhà thì mất cỡ 20 năm, nếu không rước về thêm; 20 năm cơ á, ối giời ơi, tôi lấy đâu ra tận từng ấy năm :))) nghe mà rợn thay tú, đọc vào mắt :))))


5.4.26

khô không khốc



2 quyển này Pamuk viết hoàn toàn sau Nobel; như 5 năm trước đọc Nàng tóc đỏ, tôi đã đùa rằng, Pamuk không tránh được sức tàn phá của giải thưởng. Xa lạ trong tôi không thoát tai nạn ấy; nếu nói về liên chủ thể liên văn bản, Xa lạ trong tôi không có cửa với Tên tôi là Đỏ; cốt truyện bị lồng quá nhiều sự kiện với tham vọng vẽ bức tranh cuộc sống ở Istanbul từ 1969 đến 2012 trong mắt nhìn của nhiều nhân vật [nhờ thế, tôi mới nhớ ra đã 25 năm thảm kịch 11/9], cố lồng nên gượng gạo lê thê kéo như vô tận suốt hơn 600 trang sách khổ to [lúc đọc được khoảng 200 trang, tôi than với lão bạn là tôi cảm thấy tôi như đang xem phim Ấn Độ, dù tôi chưa xem phim Ấn bao giờ, nhưng nhìn độ dài phim truyền hình của họ, thực không hiểu phim có thể kể lê thê như thế được á]. Điều tôi thấy được nhất ở Xa lạ trong tôi là nó làm tôi tò mò về thức uống boza; lần đọc lại Pamuk này của tôi, tôi tò mò rượu raki, đến Xa lạ trong tôi thì tôi còn biết trước đó, người Thổ Nhĩ Kỳ uống boza - gạo kê lên men; và ở ấn bản đầu tiếng Thổ, Xa lạ trong tôi có bìa sách là ảnh chụp một người với gánh boza trên vai - đó là một tấm ảnh đẹp, ấn bản tiếng Việt có để hình ảnh này cuối sách

trong tương quan 2 quyển được viết sau Nobel 2006, bối cảnh diễn ra gần như cùng thời điểm, Nàng tóc đỏ dung lượng chỉ ngang 1/4 Xa lạ trong tôi, nhưng khá khẩm hơn
https://www.facebook.com/share/1CbJ7qcDaJ/?mibextid=wwXIfr


tan tác

 


Mùa ảo ảnh là quyển thứ ba đọc Đỗ Thúc Vịnh, cùng series với truyện mở màn Bóng tre xanh, nối tiếp là Dì Mơ. Mùa ảo ảnh là một mở ngoặc riêng về nhân vật Văn - xuất hiện trong Dì Mơ với ý thức về độc lập, tự do, cách mạng, chiến tranh..., chính thế, nó là văn bản nặng tâm tư của lớp trí thức năm 1945 - 1946, 2 năm biến chuyển lịch sử rộng lớn, phức tạp và quá mau lẹ khiến con người trong vòng xoáy lịch sử khó theo được hết, thấy được hết để sống được hết. Trong mùa ảo ảnh đó, những thanh niên nhiệt thành, hăng hái... rời bỏ Nam bộ, đã thấy ảo ảnh họ mang trong đầu đương lần lần tan vỡ

ở kỷ nguyên vươn mình nghĩ hoang mang và có phần may mắn vì lúc này đã trung niên, nhưng nếu ở những năm 40-50 thế kỷ trước, không biết bản thân mình sẽ mang dáng dấp con người thế nào, liệu có tiếp tục làm những chú chim vỡ tổ, tan tác, lòng mang mang mà lại không ngừng tin tưởng vào tương lai... chắc chắn là không rồi, tôi chọn trết để không phải chứng kiến những ảo ảnh lần lần tan vỡ. Thanh niên thời nào là không hoang mang - nước độc cả

2.4.26

the story

 


đọc lại Bảo tàng ngây thơ sau 11 năm. Trong mấy quyển Pamuk viết sau Nobel 2006, đây vẫn là quyển tôi thích, có thể nói nó là quyển tiểu thuyết duy nhất của Pamuk tôi nhớ được nhiều chi tiết, không hiểu tại sao lại như vậy, thậm chí hôm kia có một cảnh đọc lại thôi mà tôi còn thấy nó rõ mồn một trước mắt, cảnh trong lễ đính hôn, vô tình K. ngồi vào ghế, ở giữa 2 cô gái K. yêu, như phần Đông và phần Tây của Thổ Nhĩ Kỳ  https://www.facebook.com/share/1CbDjVzZS5/

đây là tiểu thuyết xuất hiện nhà Pamuk trong tương quan tầng lớp của họ, nhắc rõ bố của Orhan Pamuk, ông Gunduz Pamuk; và, không chỉ một Orhan. Lại cũng thêm một nhân vật chính Mr K. trong tiểu thuyết của Pamuk

lần nào nhìn thấy hoặc nghĩ đến Bảo tàng ngây thơ, tôi cũng đều hát The story của Brandi Carlile. Đọc lại nó mà tôi sống như K. thất tình 3 hôm nay; bất giác, tôi hồ nghi: mình có máu M thật hay sao :)))

30.3.26

thế vai huzun



Istanbul: Hồi ức và thành phố, sau 16 năm vẫn là quyển tôi thích nhất của Pamuk. Phân nửa đó là tự truyện, nửa kia là tiểu luận về Istanbul - chính xác hơn, đó là cái nhìn của một đứa trẻ về Istanbul. Những suy ngẫm về hình ảnh, phong cảnh, sự sôi nổi của một thành phố trong cách cảm nhận của một đứa trẻ về thành phố đó [lúc nào nghĩ tới Istanbul của Pamuk, tôi cũng nghĩ đến hình ảnh mờ khói quá trình từ cậu bé thành chàng trai trẻ..., cô đơn nhìn qua một cái khung, cái nhìn xuyên ra vịnh Bosphorus với những chuyến phà] và tự truyện của nó

câu cuối của Istanbul "tôi không muốn là một hoạ sĩ, tôi muốn trở thành nhà văn", không lời giải thích nào cụ thể; nhưng Istanbul: Hồi ức và thành phố, gần như có thể nói rõ ràng tất cả. Tại những chương cuối của Istanbul, có thể nghĩ, nếu Pamuk chỉ viết những tiểu thuyết tình cảm trên phông văn hoá Thổ Nhĩ Kỳ, hay điển hình Istanbullu, thay vì những tiểu thuyết đậm màu lịch sử, nỗi buồn tiếc nuối đế chế Ottoman biến mất, sự phức tạp chính trị sắc tộc... cũng không khiến người đọc ngạc nhiên. Có một khung cảnh ngay mấy chương mở màn Istanbul, Pamuk mô tả bài trí phòng khách chung theo phong cách Tây phương trong dinh thự gia đình [mấy chục năm sau, hình như 50, Orhan về sống và viết tại đây, ngôi nhà, nơi được xem như trung tâm của một thế giới trong tâm tưởng của ông - như một lối thoát theo cả nghĩa bi quan và tích cực; nên tôi là người đọc, tôi cũng ám ảnh vị thế của ngôi nhà này gắn với vịnh Bosphorus của Istanbul và Orhan], nơi những ảnh được đóng khung, những món đồ như kỉ niệm, và các dịp đặc biệt, mọi người ở trong không gian đó, ăn uống chuyện trò ngắm nhìn chúng... trong con mắt của một nhà văn diễn giải cái nhìn của mình khi là một đứa trẻ, nơi đó chính là bảo tàng, nơi cuộc sống diễn ra với các nan đề, ta lấy các khoảnh khắc đặc biệt đóng khung nó, làm đông lạnh nó thì ta đang thách đố cái chết, sự lão hoá, bước đi của thời gian, hay ta đang [một lần nữa] quy phục trước nó - và, điều ấy khiến cậu bé Orhan khác [Orhan hồi bé có trò chơi biến mất, mở 2 cánh tủ gương ở bàn trang điểm của mẹ và thấy hàng loạt thằng Orhan khác cử động rung rinh theo Orhan mình và khi viết đến đoạn này, hẳn Orhan nhà văn cũng đang cố tóm lấy một thằng Orhan] trong nhà văn Orhan chán nản bực bội; đến đây, không khỏi nghĩ đến một tiểu thuyết nhiều tình yêu nhất, thuần tuý tình yêu của Pamuk [nó có khác gì đâu khai triển mấy chương cuối mối tình đầu của Pamuk]: Bảo tàng ngây thơ - cũng như hoàn toàn có thể nghĩ Istanbul là tiểu thuyết bán tự truyện: Giải phẫu nỗi buồn

Pamuk sinh ra trong một gia đình trung lưu có truyền thống làm kỹ sư cầu đường; sự nghiệp của ông nội Pamuk có thể khiến Pamuk tự tin nói, mặc cho hết lần này đến lần khác phá tán tài sản thì bố và các chú bác của Pamuk cũng không làm thế nào cho hết số cuả cải ông nội để lại; Pamuk học kiến trúc 3 năm và nghĩ mình sẽ là một kiến trúc sư vì là người nghệ sĩ tính nhất trong gia đình, đó là giải pháp thoả mãn mọi người trong nhà, còn hơn là làm hoạ sĩ toàn thời gian, điều mà mẹ Pamuk trết khiếp; nhưng khi đang học kiến trúc, Pamuk bắt tay viết tiểu thuyết - muốn trở thành tiểu thuyết gia trước khi biết mình sẽ viết gì. Điều này hết sức tự nhiên, vì dẫu sao, chạy trời không khỏi nắng. Sinh ra với người bố coi cuộc đời là nơi để tận hưởng vui thú, thế giới là hí trường, là sân chơi, ông cũng viết cũng từng dịch Valery sang tiếng Thổ [còn Pamuk thuở bình minh, khi còn nghĩ mình sẽ là một hoạ sĩ, Pamuk dịch Graham Greene], cũng có một thư viện riêng khoảng 1500 cuốn sách - quá đủ cho một nhà văn ở một đất nước như Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng những gì viết và dịch, ông khoá nó vào một chiếc valise, từ bỏ [như sau này Pamuk có diễn từ Nobel: Cái vali của cha tôi] khi bị chế nhạo bởi tầng lớp thượng lưu mà ông là thành viên; và người mẹ của Pamuk thì quá sắc sảo, luôn biết hoặc muốn là mình biết mình muốn điều gì [sau khi xuất bản Istanbul, mối quan hệ của Pamuk và mẹ, xem như hỏng, với anh trai thì còn rất thưa thớt; hình ảnh người mẹ và anh trai xuất hiện dày đặc, thậm chí cả ở các tiểu thuyết]. Istanbul cho thấy một Pamuk cô đơn và do dự [khác với Những màu khác, rất rõ ràng, đó là kiểu nhà văn rất có dục vọng và chiến lược văn bản]

Những màu khác, cũng sau gần từng ấy năm, đến giờ tôi đã có thể thoải mái đọc phần 2: Sách và đọc sách - về việc đọc của Pamuk. Trước đây, tôi đã kiên quyết bỏ qua, vì muốn bảo toàn việc đọc của mình khi tôi chưa đọc gì mấy, đã đọc được gì đâu, tôi không muốn ai khác vấy vào; trước đây, tôi có phần ngưỡng mộ sự đọc của Pamuk, nhưng bây giờ thì không còn được như vậy; Pamuk không phải một nhà phê bình, người đọc gì cho lắm [Pamuk quan niệm mỗi ngày phải làm một liều văn chương, liều ở đây tất nhiên là cả đọc và viết, nhưng dành cho viết những 10 tiếng một ngày, đều đặn, quả là thiên lệch, với Pamuk, viết văn dỡ bỏ mọi ưu phiền] đọc Pamuk viết về các tác phẩm có phần khiến tôi thất vọng, hơi đuội so với tôi hình dung. Phần 4: Sách tôi là đời tôi, phần này bây giờ đặc biệt hay với tôi, khi đã đọc lại vài quyển của Pamuk liền nhau; nghe tác giả nói về tác phẩm của mình luôn là điều gây tò mò cho người đọc và đây chính là lúc người đọc đọc tác giả và tác giả tiết lộ với người đọc - nếu hoạt động này mặt đối mặt, cả hai vị thế này dễ gây cho nhau những cú ngã ngồi, phi vụ thế vai này cũng tréo ngoe như 2 nhân vật trong Pháo đài trắng thôi. Ta hoàn toàn không nghĩ ý định và chiến lược văn bản của tác giả nhằm những điều ấy; cũng như tác giả vẽ bức tranh bằng văn bản không thể ngờ những người đón nhận chúng lại cảm và hiểu theo các hướng nằm ngoài, xa tít khỏi mục tiêu người sáng tạo nhắm đến [vẫn một câu cũ, các tác giả hay nói, chỉ mong mình trết đi để tác phẩm sống đời riêng nó và, biết đâu, để không còn phải nói phải lý đến cái mình viết ra :)]
[nếu cứ chăm chăm, nhất định muốn đọc người khác viết gì về các tiểu thuyết [việc này dở] của Pamuk, vì không biết viết gì, vì lười đọc, đọc không hiểu etc. có thể đọc luôn những bài Pamuk nói về tác phẩm trước Nobel của mình trong Những màu khác (gợi ý cho các bạn trả bài thày cô đấy, môi trường giáo dục thích việc í còn gì)]

Những màu khác tập hợp nhiều văn bản thuộc cả tiểu luận, tạp bút, truyện ngắn, những mẩu nhỏ, phỏng vấn, diễn từ, những khoảnh khắc, những ý nghĩ... như Pamuk nói Những màu khác là "một cuốn sách tạo thành từ các phân mảnh" như bản thân cuộc đời, không có ranh giới và do đó, có tính chất phân mảnh [chắc vì thế người ta thường cố gắng mang các ý nghĩa cho tác phẩm, như làm với cuộc đời :)))] mà nếu chịu khó để ý các chi tiết nhỏ, sẽ nhìn ra những cái Pamuk đọc nhiều hơn chính các bài trong phần liên quan đến sách và đọc sách của Pamuk. Ta có thể đóng vai như Orhan trong Kar đi theo lộ trình của nhà thơ Ka - một kiểu thế vai, tưởng tượng tất tật những chi tiết tạo nên bầu không khí văn chương này, thành hiện hữu

bài viết tôi thích nhất trong Những màu khác, lại không phải series viết về Dostoievski của tôi, hay series về các tác giả tôi cũng đọc... mà đó là 2 bài Pamuk viết về bố của ông, chương 2: Cha tôi [viết ngay sau khi bố của Pamuk qua đời] và diễn từ Nobel cuối sách: Cái vali của cha tôi - bố của Pamuk là một người đàn ông, tôi nhìn theo con mắt thích các mẫu nhân vật tiểu thuyết, tôi thích ông ấy, còn mẹ Pamuk tôi thấy mẫu nhân vật ấy thông dụng quá, không còn sức hút với tôi [Istanbul được Pamuk đề tặng cha, Gunduz Pamuk; ông mất 12/2002, khoảng năm 2000 Gunduz đưa cho con trai cái valise đen nhỏ đựng những gì ông viết, dịch khi trẻ và khi Pamuk hoàn thành tiểu thuyết đầu tay, chính ông Gunduz đã tiên đoán một ngày nào đó Orhan của ông sẽ thành pasha, sẽ giành giải thưởng]

tình trạng mơ hồ mà không khí những dòng tự truyện trong Istanbul và Những màu khác mang đến, có thể gọi tên là nỗi buồn theo từ của người Thổ Nhĩ Kỳ: huzun - nỗi buồn mang tính cộng đồng [chương 10 của Istanbul là một chương với riêng huzun]; nó không mang tính phân minh rõ ràng, mà che mờ, huzun làm tầm nhìn nhoà đi, như hơi nước nóng bốc lên làm nhoà mặt kính, ta viết và vẽ lên mặt kính đọng hơi, huzun tan ra và ta cảm thấy thoải mái, rồi lấy tay xoá bỏ tất cả, ta nhìn ra bên ngoài cửa kính. Cái nhìn, bản thân cũng mang huzun của riêng nó, nỗi buồn mà Istanbul ôm lấy như là số phận [huzun này hao hao một hình thức của nỗi buồn "buồn thiu" tristesse - thuộc quan sát của một người đứng bên ngoài, của một người Tây phương cảm thấy khi anh ta nhìn vùng nhiệt đới, trong Nhiệt đới buồn của Levi-Strauss] - "Cái đẹp của một phong cảnh nằm ở trong nỗi buồn của nó"

23.3.26

kar



1992, Ka trở về Thổ Nhĩ Kỳ sau 12 năm lưu vong tị nạn chính trị ở Đức. Tuyết - kar, bắt đầu rơi khi Ka đến thành phố biên giới Kars và chẳng mấy chốc, tất tật các con đường ra khỏi thành phố đều bị chặn vì đợt tuyết lớn, thành phố như bị cắt lìa khỏi thế giới bên ngoài; tại đây Ka gặp lại Ipek - người mà ông từng có tình cảm, và kẹt giữa sân khấu các màn kịch: chính trị tôn giáo, bạo động đảo chính, thảm kịch tự sát của các cô gái trẻ nhằm bảo vệ tấm khăn trùm đầu, bi kịch tình ái của hai chị em Ipek...

suốt 16-17 năm qua, tôi vẫn nghĩ Tuyết là tiểu thuyết đơn thuần của Pamuk tôi thích nhất, dù mỗi khi nói điều này, tôi đều chỉ mang máng nhớ về một người đàn ông, nhà thơ, có vẻ già, cô độc, mong chờ hạnh phúc và cũng sợ hạnh phúc, trở lại quê hương Thổ Nhĩ Kỳ trong buổi rối ren như nó vẫn thế, đi lang thang dưới trời tuyết rồi trở về phòng khách sạn đứng nhìn tuyết rơi qua cửa sổ nghĩ về những chuyện mình bị kéo vào, rồi chuyện tình ái thế nào đấy [tôi luôn thấy các nhân vật nam của Pamuk trong chuyện tình ái có phần ngây ngẫn]... cuối cùng thì nằm trong danh sách thủ tiêu của nhóm hoạt động Hồi giáo, đương nhiên chết, không có chuyện cái chết ấy thoát trượt được [tôi cũng hay nghĩ Pamuk rơi vào cảnh như Ka, sau này đọc phỏng vấn Pamuk, đúng là các nhóm hoạt động Hồi giáo có vời đến Pamuk và, Pamuk tởn]

nhưng lần này đọc lại, là vừa đọc dứt Tên tôi là Đỏ xong, thế là thấy ngay phô chênh. Nhất là nửa đầu Tuyết, cảm giác rất khó chịu vì người kể chuyện gián tiếp - chênh vênh, rõ ràng anh ta ở đây - câu chuyện ngay trong điểm nhìn của anh ta, mà cũng rất rõ ràng, anh ta đang kể một câu chuyện anh ta lờ mờ chưa xác quyết; không phải mọi thứ trong màn sương mà dưới trời tuyết lớn, loá của màu tuyết và con mắt nhìn bỏng lạnh. Đến nửa sau, người kể chuyện gián tiếp - Orhan Bey xuất hiện [lại là Orhan, trong mở đầu Istanbul - Hồi ức và thành phố, ta sẽ bắt gặp Orhan Pamuk nói về một Orhan khác - những Orhan trong Đỏ trong Tuyết... chẳng hạn vậy :)], trong vai trò bạn của Ka, lúc này Ka đã bị ám sát, Orhan đến Đức rồi trở lại Kars lần theo quá trình sáng tác tập thơ Tuyết của Ka để hiểu bông tuyết bố cục tập thơ và các sự kiện, hoàn cảnh sáng tác, sự kiện gì xảy ra thời khắc cuối Ka ở Kars, cái chết của Ka vài năm sau đó, những lá thư viết cho Ipek không gửi...

không cần phải đi đến hết Tuyết tôi mới hiểu tại sao tôi từng thích nó nhất; đơn giản thôi mà, khi ấy tôi trẻ, tôi thích những gì cầm nắm rõ như tay tôi cảm nhận nó, mắt tôi thấy nó hiện hữu... nó nhiều tình tiết, rõ mồn một tôi đọc hiểu bằng con mắt đơn thuần của người đương đại đọc một câu chuyện mang tính thời sự. Tuyết quá giống một bộ phim điện ảnh, giải trí mà không quá sáo rỗng, vừa thị hiếu

Tuyết, được dịch từ bản tiếng Đức, có tham khảo bản tiếng Anh. NN giai đoạn này ác thật, Nobel réo Pamuk 2006 thì 2007 đã có Đỏ, 2008 cả Pháo đài Trắng cả Tuyết, 2010 tiếp tục Istanbul bản dịch tuyệt vời... Dã man thật


21.3.26

song tinh vong thân



16-17 năm trước đọc trầy trật mãi Tên tôi là Đỏ [gọi là Đỏ đi]. Vài năm sau đó, có một thời gian chơi trong hội thích truyện trinh thám, Tên tôi là Đỏ cũng nằm trong một vài bài thảo luận sách của hội; nhìn nhận Đỏ là tiểu thuyết trinh thám thì tiếp cận được nhiều đối tượng đọc hơn; còn nếu chỉ nghĩ nó là tiểu thuyết lịch sử và lịch sử hội hoạ Thổ Nhĩ Kỳ [bối cảnh của Đỏ là Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ 16; trước khi trở thành nhà văn, Pamuk học kiến trúc; anh trai của Pamuk là nhà sử học, giảng dạy lịch sử ở Istanbul và trong Đỏ, nhân vật Shekure - con gái của người chịu trách nhiệm làm ra quyển sách theo lệnh không chính thức của vua, một quyển sách theo lối Tây phương (lại là làm ra quyển sách, như Pháo đài Trắng :p); có 2 con trai tên Shevket và Orhan; 3 cái tên ứng với tên của mẹ tác giả, anh trai và tác giả], nghe đã thấy buồn ngủ [đọc Pháo đài Trắng nghĩ đến Italo Calvino; còn Tên tôi là Đỏ thì nghĩ đến Umberto Eco, vì khô như ngói và, vì buồn ngủ :p]

giờ đây đọc lại, cũng vẫn buồn ngủ như xưa, nhưng thấy nó hay hơn, có thể lúc này có đảo chiều lớn [phải đọc lại mấy quyển kia mới khẳng định theo hướng cá nhân được], cho Tên tôi là Đỏ là tiểu thuyết đáng đọc nhất của Pamuk [Pamuk viết Đỏ trong 2 giai đoạn 1990-1992 và 1994-1998, trước khi bị giải Nobel réo tên cả 10-15 năm, chỉ từng ấy thời gian nhưng khoảng cách là thế kỷ :)]. Tiểu thuyết viết dưới dạng tự sự, mỗi chương là một nhân vật đứng "tôi" tuần tự theo tiến trình thời gian sự kiện thay phiên nhau kể câu chuyện theo con mắt nhìn của mình, vì thế nó cho phép độc giả biết gần như ngay từ đầu thủ phạm gây ra 2 cái chết, cách thức động cơ... Với lựa chọn viết cho tất cả các nhân vật đều được đứng ở vị trí tự sự "tôi" ngang nhau, tất tật các nhân vật nhìn ngang nhau, như cách vẽ của các bậc thày xưa ở Thổ Nhĩ Kỳ, không theo luật phối cảnh, vật ở gần hay xa đều giữ nguyên vai trò, không thay đổi theo tầm nhìn gần hay xa [giới luật Hồi giáo không cho thờ ngẫu tượng, chỉ Thượng Đế mới có quyền năng sáng tạo, nên "vẽ là nhớ lại", tranh vẽ chỉ minh hoạ theo luật như vậy, và thường vẽ nhỏ ở lề sách, những người vẽ các tranh này theo đó gọi là nhà tiểu hoạ] - người sáng tạo văn bản như người vẽ tranh theo cái nhìn "từ một đỉnh tháp" giống như cách nhìn thế giới của Thượng Đế "nhìn từ trên cao"... chính điều này tạo điểm nhấn ấn tượng cho Tên tôi là Đỏ, khác hẳn, vị thế riêng với những tiểu thuyết khác của Pamuk, truyện là chuyện lồng trong lớp lớp các câu chuyện song hành chồng lấn nhau, để đến câu cuối cùng tiểu thuyết, chương do nhân vật Shekure đứng "tôi", bà nói: đừng để Orhan [đứa con trai thứ, bé bỏng của bà] lừa [...] để có được một câu chuyện thuyết phục và thú vị thì không có lời dối trá nào mà Orhan không dám nói ra

có một chi tiết rất hay, khoảng chương 4x khi 3 nhà tiểu hoạ vẽ ngựa, vẽ gì cũng là tự hoạ, người làm sao của bào hao/chiêm bao làm vậy: 1 người khi vẽ ngựa tuyệt mỹ, họ trở thành chính con ngựa tuyệt mỹ đó; 1 người khi vẽ ngựa tuyệt mỹ, họ trở nên bậc thầy vĩ đại trong môn vẽ ngựa kiểu cổ; và, 1 người vẽ ngựa tuyệt mỹ thì y nguyên tôi là chính tôi, chẳng có gì hơn... 

người nghệ sĩ nếu sống, suy nghĩ và sáng tạo như các thế lực chi phối, như xã hội đã suy nghĩ và làm việc thì người nghệ sĩ cũng mất dần và không còn khả năng sống, tư duy như con người nghệ thuật của họ "vẽ mà không sợ hãi". Thế là vong thân, không còn là mình, sống và chiều chuộng thứ cảm năng không phải của mình là mình, lạc bước vào những mê cung mờ mịt không làm sao nhận diện, không còn hiểu mình là ai, không còn tin vào mình trong cả hoạt động sáng tạo lẫn đời sống con người ngoài nghệ thuật. Hai cái chết trong Đỏ là hiện thân của 2 phía, kẻ tin vào nghệ thuật mình tham vọng đeo đuổi vươn tới và kẻ tin vào nghệ thuật của người khác nghĩ, hay cách nghĩ mà xã hội thừa nhận [họ chọn tiếp tục thế nào, tiếp tục chiều chuộng thị hiếu, tiếp tục sống mà lờ đi điều họ tin, hay, tự chọc mù con mắt nhìn của mình, thứ nhất để bảo toàn, thứ hai để từ chối hiện hữu, ngay cả khi đó là sự hiện hữu của sắc đỏ, của dục vọng đam mê mâu thuẫn báng bổ..., của một quyển sách]. Một hình ảnh đẹp về kiếp vong thân - số phận chung của loài người làm người, ở cả hai phía dịch chuyển hay không - đi hay không đi - giữ nguyên hay hoà lẫn, dục vọng hay thờ ơ..., cho dẫu Đông và Tây đều thuộc về Thượng Đế

ps. đọc lại mới để ý, Pháo đài Trắng dịch từ tiếng Nga, Tên tôi là Đỏ dịch từ tiếng Anh

6.3.26

the naked eye



"thị lực cũng giống như một kẽ nứt vậy. Không phải thông qua cái kẽ nứt đó ta có thể nhìn thấy được, mà nó chỉ đơn thuần là một kẽ nứt thôi. Vì vậy nói đúng ra nó không thể thấy được gì cả. Mắt không thấy được thực ra cũng là một cái hay"

rất nhiều thứ không thể nắm bắt bằng thị giác, làm sao có thể nhìn đúng về thế giới theo cách ấy. Cũng như nhân vật tôi - một cô gái miền Nam Việt Nam sinh năm 1972, thông thạo tiếng Nga [sau này tôi mới biết Yoko Tawada từng học chuyên ngành văn chương Nga], đáp máy bay xuống Berlin Đức rồi "bị bắt cóc" tới Bochum Đức, rồi nhảy tàu lộn tới Paris... sự dịch chuyển qua các giới tuyến, không chỉ địa lý và không ở đâu, cô ấy có thể nói ngôn ngữ cô ấy có thể dùng và không ở đâu, người ta nói với cô ấy ngôn ngữ mà cô ấy có thể hiểu; nhưng khi xem một bộ phim do thích diễn viên Catherine Deneuve [cả tiểu thuyết 12 chương, mỗi chương gắn với một bộ phim do diễn viên này đóng, nhân vật tôi xem đi xem lại nhiều lần các phim] cô ấy thấy rằng, mình hiểu nhân vật, hiểu tình tiết trong phim chính bởi mình đã không hiểu thoại, ngôn ngữ mà các diễn viên dùng [đây gần như là điều hiển nhiên của nghệ thuật, nó luôn có thể làm người ta hiểu phần nào ngôn ngữ mà nó truyền đạt thông qua loại hình nghệ thuật nó chọn (ngôn ngữ điện ảnh chẳng hạn)]; trong khi nhân vật tôi này, gần như khước từ việc học ngôn ngữ trên mỗi mảnh đất mình lưu lạc, chi tiết cô ấy tìm cách dừng đoàn tàu, giả như để cứu một người phụ nữ tự tử, cô ấy khôi hài, đại ý: vậy là để cứu người phụ nữ này, tôi cần phải chuyển ngôn ngữ

Mắt trần được viết ban đầu bằng tiếng Đức, rồi mới bằng tiếng Nhật. Bản dịch Mắt trần trong tiếng Việt, xuất bản 2011, dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, có tham khảo bản tiếng Anh dịch từ nguyên tác tiếng Đức [bản tiếng Việt biên tập không tốt lắm]; năm ấy tôi đọc Mắt trần, như sau này tìm lại ghi chép trên blogspot, tôi cứ nghệt ra, hồi đó tôi đã không cảm thấy đây là văn chương Nhật, đây là cái gì thuộc dòng máu lai; đến gần đây, sau khi đã đọc truyện ngắn Bản nguyên, Chàng chó và [lại lần nữa, đúng như 15 năm trước tôi từng nghĩ, chắc tôi phải đọc nhiều hơn 1 lần] Mắt trần thì tôi bắt đầu hiểu cảm giác của tôi ngày xưa. Văn của Tawada cho tôi không khí của một thế giới ai cũng có thể trở thành người nhập cư - người nước ngoài, tại chính nơi người ta đang có một hiện thực, người dịch chuyển qua những kỳ lạ của ngôn ngữ, của hiện thực và những tưởng tượng qua kẽ nứt; hiện thực mang dáng vẻ hư thực đan vào nhau đến phi lý ấy [đến Mắt trần thì tôi nghĩ đến Kafka, chứ không như Bản nguyên tôi nghĩ đến Bruno Schulz] - không ở đây, không ở đó, không ở đâu cả - người lạ với ngôn ngữ đang trên đường tìm kiếm [ngôn ngữ đang trên đường tìm kiếm, điều này sẽ gặp lại ở một quyển của Tawada mới xuất hiện trong tiếng Việt: Rải rác khắp nơi trên mặt đất; thoạt đầu, nó làm tôi nghĩ đến Kết tinh thầm lặng, của một Yoko khác tôi quan tâm, Yoko Ogawa], một ngôn ngữ nhìn từ góc độ của người nói một ngôn ngữ khác vừa như nhân tạo vừa như gì đó rất kỳ diệu [ví dụ, khi tìm Mắt trần trong tiếng Đức, tôi biết nó chắc chắn là the naked eye trong tiếng Anh, vậy thì tiếng Đức nó có thể trông như thế nào, rất nhanh chóng tôi đoán nó là das nackte auge, chỉ bởi thấy nake và nack nhang nhác, nhưng khi tìm nó trong tiếng Nhật thì... không làm sao mà đoán cho nổi, tiếng Nhật với mẫu tự, như từng xuất hiện trong Bản nguyên, là ngõ cụt với tôi, mà nếu có phiên ra abc thì tôi cũng mù tịt. Tôi từng hỏi con bé cháu mới học tiếng Nhật, học tiếng Nhật thấy thế nào, nó nói vài ba câu cơ bản trong mấy tháng qua nó học với tôi, tôi bảo stop, dù cho có nói sai hay bịa ra, tôi cũng chịu, không cần tiếp tục thêm nữa :)))]

đến giờ tôi vẫn nghệt ra với ý nghĩ năm xưa "dòng máu lai", gì chứ, một nhà văn Nhật viết bằng cả tiếng Nhật và tiếng Đức, lại viết tiểu thuyết có nhân vật chính là cô gái Việt Nam [một người đọc Việt Nam là tôi, hiển nhiên nhận ra, đây là một nhà văn nước ngoài viết về người Việt Nam] mà đến cuối cùng không ai biết tên thật của cô ấy là gì [chỉ biết cô ấy người miền Nam Việt Nam, Sài Gòn, tp. HCM], cô ta tất nhiên nói tiếng Việt, thông thạo tiếng Nga, lưu lạc ở Bochum Đức trong khi lòng hướng đến Berlin Đức, rồi lại Paris Pháp, suýt chút nữa thì sang Thái Lan làm đám cưới để hợp thức hoá giấy tờ..., rồi chân vẫn thọc trong đôi giày cũ, trong những bộ phim của quá khứ thì bỗng, bằng một cây kim đồng hồ, chọc thủng mắt mình; từ đấy chuyển từ ngôn ngữ qua thị lực - kẽ nứt, qua điện ảnh thành ngôn ngữ của những ngón tay, tiếng gõ vào lòng bàn tay. Lúc này, khuôn mặt, hình ảnh căn cước, ảnh dán trong hộ chiếu... không còn nghĩa lý gì nữa rồi. Xuyên các giới tuyến, đường biên, biên độ thị lực, ngôn ngữ... ở đâu đó, một chỗ đứng đúng, mỗi người có thể quan sát và trình diễn thế giới mình biết bằng nhiều điểm nhìn, chỉ từ một lỗ khoá, hay, một kẽ nứt; mở ra khả thể, xoá nhoà các ranh giới, giao thoa các thế giới


24.2.26

bản nguyên




hôm qua trước giờ đi ngủ, đọc truyện ngắn Bản nguyên trong tập Chàng Chó của Yoko Tawada. 2 người trẻ tuổi Nhật Bản - 2 chị em, sang Đức du học; họ đều học văn chương, cô chị muốn viết luận văn về một tác giả nữ người Thổ Nhĩ Kỳ sống ở Đức viết tiểu thuyết bằng tiếng Đức, còn cậu em thì làm nghiên cứu về văn chương Đức trung đại với nhận định nếu làm về văn học hiện đại Đức chắc chắn không lại được người Đức nhưng nếu là văn học trung đại thì có lẽ sẽ không thua [trong khối Phát-xít, ở độ lùi thời gian sự kiện, người Đức và người Nhật rất khác nhau, người Đức mang mặc cảm tội lỗi, còn người Nhật dường như không; người Đức để người ta biết về họ qua những thứ có vẻ bông phèng như xúc xích, ô tô, bia và, những góc vuông nguyên tắc, còn người Nhật thì, điều quái gì cũng có thể xảy ra và được nhìn là kiểu Nhật nó vậy]; cậu em trai đối diện với tình huống mà cậu ta cho rằng vì mình là người Đông Á ở Đức nên mình bị phớt lờ phục vụ, đồng thời, cũng không dễ chịu gì khi bị người khác nhầm là người tị nạn Việt Nam; còn cô chị gái trong lộ trình đi vẩn vơ sau khi không mua được máy biến áp [các loại máy móc của Nhật Bản điển hình điện 100v, nên luôn phải có thiết bị biến áp nếu muốn dùng, người bán hàng người Đức đã cười và nói, đơn giản chỉ cần không dùng hàng Nhật đi là được thôi], với khuôn mặt không biểu cảm, không mang "vị đắng" thì bị nhầm thành người Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines... không đúng bản nguyên của họ. Chuyến đi vẩn vơ của cô gái rất điển hình văn học Nhật, họ luôn viết những trường đoạn dài như không mục đích [trường đoạn này tôi cho rằng Yoko Tawada thực hành văn chương Bruno Schulz (nhân tiện, hôm qua lạc vào fb một bạn làm báo mảng văn nghệ, gần đây thấy bạn lên bài sách vở nhiều, đọc đúng giọng viết báo, tôi hay nói là giọng nói phét, nói điêu đấy, thế nào lại đập vào mắt đúng stt bạn viết sai tên Bruno Schulz, thế là tôi yên tâm tôi tóm xong rồi, tôi đi ra; tôi hay có ý nghĩ, tên các nhân vật ta viết sai bởi đó như các vần các từ, ta chưa thuộc vần chưa hiểu từ thì ta viết sai hiểu sai, đọc đủ nhiều, vần nhuần nhuyễn rồi thì sẽ không viết sai vần í, tên nhân vật í nữa; nhưng ở chiều ngược lại, thì không đúng)], nhiều khi, dù hiểu biết về phong cách văn chương của họ, vẫn cứ hồ nghi "thế cứ như thế này à"; nó là sự dương vô hình bay lửng lơ trong không khí của các dòng, chính vì vô hình thì mới có thể tạo ra cái hữu hình khi dương nhập âm - vào đủ sâu, đủ tưởng tượng của giấc ngủ ập đến một cơn mộng hư ảo và chính lúc ấy, chi tiết cô gái đeo mặt nạ Noh - một cái mặt nạ hàng nhái, nhái vì nó sản xuất 100% ngoài biên giới Nhật Bản, nó sản xuất ở Tây Ban Nha - khi ấy, cái mặt nạ kịch Noh Nhật Bản che đi khuôn mặt Nhật Bản thiếu "vị đắng" không biểu cảm, khi cô đang rành rành là người Nhật nhất, ở con phố ấy, mọi người lại không nhận ra cô là người Nhật. Bỗng nhiên một định nghĩa được thốt lên trong đầu người đọc, từ xa xăm một chi tiết nhỏ đã qua "người Nhật ở nước ngoài là người nước ngoài... người Đức khi ra nước ngoài cũng sẽ là người nước ngoài đấy"

vượt ra khỏi biên giới địa lý - đó là tính trạng lỏng lẻo nhất xác lập bản nguyên; bản nguyên không cố định hay trơ trơ chỉ có như vậy, bản nguyên tiếp tục mở ra, nó là ngôn ngữ, văn hoá- không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó còn là ký ức, căn tính đã định hình qua thời gian, là những lề thói tập tính sinh sống, tính cách dân tộc... sau tất tật thời gian, ranh giới... những gì còn ở lại, biết đâu sẽ dẫn đến mảnh đất bản nguyên của mỗi người

tôi tắt đèn đi ngủ, rồi trở dậy rất sớm, lại cầm sách đọc, và lại sớm tắt đèn ngủ lại. Tôi xuất hiện trong hình hài một người ngật ngưỡng đứng không vững [ban đầu tôi cứ nghĩ mình say rượu, sau đó, tới cuối giấc mơ, tôi mới biết mình đã rít quá nhiều bóng cười], ăn mặc hơi thiếu vải, xoã xượi vào nhà một cô bạn đại học. Cô ấy nói, mình đang ở giai đoạn s2a, và muốn sinh thêm con; tiếng người nói lùng bùng bên tai tôi, không biết người khác nói hay chính tôi nói, tôi chỉ nhớ rất rõ, một câu nói giọng của tôi vang trong tai tôi, rằng, không hiểu gì lúc này, có gì đợi tỉnh rồi nói. Tôi nằm trên một cái giường tạm; một người đàn ông là anh họ của bạn tôi từ đâu bước vào bôi gì đó vào bụng cho tôi, chắc cô bạn tôi nhờ vì cô trông rất mệt mỏi cứ nửa nằm nửa ngồi trên một cái giường trong phòng trong, sợ tôi bị cảm; người đàn ông đó xoa dầu vào bụng cho tôi thì ít, tay anh ta luồn thọc đi lung tung thì nhiều vì tôi không mặc bra, tôi biết rất rõ, nhưng thật khó khăn với chân váy ngắn cùng quần tất của tôi; tôi dùng chút tỉnh táo của mình để ú ớ kêu và vùng vẫy tay chân [tôi luôn sợ tình thế bị say và phải ngủ ở một nơi chốn lạ, đời tôi chưa từng vì đấy là tối kỵ, có muộn có mưa gió thế nào tôi cũng phải về chốn của tôi, ngồi taxi tôi cũng phải nhè ngồi sau ghế lái và lúc nào tôi cũng sẵn sàng giết người (khi say tôi là người bị thương, con thú bị thương thường nhạy cảm với những gì tiềm ẩn nguy cơ), người lái taxi đêm thường không thích điều này, nhưng tôi luôn ỷ mình là kẻ say, trơ lì ngồi ngay sau lưng ghế lái, có gì tôi giết người lái xe trước khi họ định làm gì tôi :))); nên tôi rất không hiểu các bạn tôi, có những quả say và chui vào lều ngủ hay ngủ lang chỗ này chỗ kia một ai đó rủ rê, have sex với người lạ rồi sau đó tá hoả đi viện khi xảy ra những mụn những ngứa ở những chỗ tiếp xúc etc.] rồi tôi nhất định mình phải về nhà nên tôi quáng quàng bò dậy để rời đi. Người đàn ông cố gắng đưa tôi lên xe vì trời mưa lâm thâm, nhưng tôi nhất định mình đi bộ, và tôi đi ngật ngưỡng mãi, cứ chỗ nào bẩn thỉu chợ búa đường lép nhép bẩn thì tôi chọn đi, cứ chỗ nào có người có thể qua lại thì tôi chọn đi, cứ như vậy tôi đi giữa đường, không thuộc phần đường nào vì suốt quãng đường ra khỏi nhà cô bạn đại học, người đàn ông luôn tìm cách sờ mó vào cơ thể tôi, dồn tôi vào các góc kín; rồi tôi về được đến kho gạo - nơi này từ bé tôi đã thuộc, chỉ 100m nữa là đến sạp báo tôi vẫn mua báo giấy hồi bé, sang bên kia đường là nhà tôi. Ở kho gạo, đường ngập nước [tại sao các giấc mơ, ở bên này đường nhìn sang bên kia đường nhà mình, tôi luôn bị cản trở bởi ngập ngụa nước, mênh mông nước dập dềnh, tôi lúc nào trong giấc mơ ở đoạn đường này cũng như lênh đênh trở về nhà], công trình cầu cống đang dở dang, trên một bãi phế liệu nước chưa dâng tới, tôi nhìn thấy một cái nhà chó có chốt cửa; tôi muốn chui vào đấy ngủ tạm, chỗ đấy là đủ an toàn với tôi khi đi với người đàn ông lạ kia; tôi dùng gạch đập khoá nhà chó, dùng hết sức giật, cửa mở toang; bên trong một người đàn ông già nằm co quắp, ông trông tiều tuỵ như con người hậu tận thế, mái tóc bạc trắng bết lại dính loà xoà trên khuôn mặt lem nhem các hốc mắt hốc má hốc thái dương; mắt ông dường như mở hé lờ đờ, tôi đứng dựa hoàn toàn vào cánh cửa và thở dồn gắng sức, hỏi ông "ông còn sống không" và ông gần như bất động lào khào thở hắt "còn... sống", tôi vươn người vào nắm bàn tay ông cụ, nó không lạnh như tôi tưởng, có thể tay tôi còn lạnh hơn cái lạnh ở một người lào khào còn sống. Tất tật sự việc ở chuồng chó trên bãi phế liệu đều diễn ra trước mắt người đàn ông đi theo tôi, anh ta đứng dưới chân bãi phế liệu nhìn tôi rồi tìm cách lôi tôi đi, không cho tôi chui vào căn nhà chó, cũng không cho tôi tiếp tục đứng ở đấy trơ lì nắm tay ông cụ không buông. Cuối cùng tôi về đến cửa nhà, ngã ba đường hàng hoa quả bày bán dâu tây, bảng điện tử đề 75.000, tôi nói mình muốn mua dâu tây; nhưng tôi không đứng vững nổi nữa, tôi vào nhà bò lên tầng 3 nằm vật xuống, anh ta giúp tôi cởi bỏ quần áo, tôi nói "bóng cười nóng quá, không có kẹo mát ở đây, dưới đường có hàng dâu tây...", chưa hết câu, tôi nhìn theo dáng người anh ta chạy đi; không yên tâm ngất đi nên tôi cứ cầm mãi một cái bật lửa kim loại mài thật lực trên nền gạch đá hoa rồi cố gắng bò lồm cồm trên sàn nhà để đi chốt cửa, khi vịn được vào cửa sổ, nhìn từ trên cao xuống đường, thấy anh ta đang mua dâu tây, nhưng người bán hoa quả đã chỉnh bảng giá điện tử hiện con số 100.000, tôi muốn nói vọng xuống đường để người bán hàng biết, đó là chỗ dâu tây tôi mua, hãy chọn cẩn thận, đừng chặt chém... nhưng chưa đâu vào đâu thì đã thấy lại anh ta ở cửa phòng. Chúng tôi nhìn nhau; tôi cho rằng mình biết những gì anh ta đã làm với tôi và tôi được quyền nhìn thẳng vào đối tượng, trong tầm ngắm; anh ta không nói gì, bối rối các cánh tay thừa thãi gắn trên một thân người vụng về, xây lưng mở các tủ nhìn và tìm kiếm. Tôi ngồi đó dán con mắt nhìn vào hình thù người đang mờ dần đi trước mặt, rồi gà gật thiếp đi, hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy, anh ta đang đứng nấu ăn, mùi thơm của gạo ninh trong nhiều nước; có vẻ anh ta đang chăm sóc tôi thật, anh ta không cố lợi dụng lúc tôi không tỉnh táo nữa, mắt tôi trĩu xuống, tôi tự nhủ trong ý nghĩ xa xăm "mình thật buồn ngủ và mình đã an toàn về nhà rồi, một nơi chốn thật ngon để ngủ thật tốt đẹp để chết, mình hẳn sẽ ngủ ngon lắm đây". Rời bỏ ý nghĩ của giấc mơ, tôi rời giấc mơ ra và bắt đầu giấc ngủ lại của mình. Mở mắt, 10 giờ sáng, tôi là tôi với quần áo ngủ trên người, ngủ trên chính cái giường của mình trong căn phòng của mình ở ngôi nhà của mình, không phải tôi nào đó quần áo thiếu vải say bóng cười với đôi mắt mèo phòng thủ. Tôi đã trở về rồi

ps. thích một cái gì, cũng đều là nghiện thôi, chỉ khác mức độ. Anh thích những đồi núi tinh thần, những đồi núi cảm xúc thì việc được bập bềnh cảm xúc cũng là các liều cho con nghiện mỗi ngày, mà thường, càng ngày càng thích nặng đô hơn. Đọc làm tôi được ngủ mơ những giấc dài, hư cấu thực hơn; với người đêm ngủ nào cũng mơ như tôi, việc ngủ mà không mơ hoặc mơ như cuộc sống thực vốn dĩ... là chán ngán nhạt thiếu vị; đọc, là liều thuốc cho kẻ nghiện mơ

2.2.26

C. S. Lewis

 


https://www.facebook.com/share/v/1DtXCpMVS7/

ảnh và video từ 10 ngày trước, rồi muốn viết gì đấy về C. S. Lewis; nhưng đã không có thời gian và tâm trí để bắt đầu. Một thử nghiệm phê bình là quyển sách gần nhất cho tôi cảm giác được đọc chậm lại; một bản dịch chỉn chu; nói quyển sách khớp với người dịch chúng, người dịch khớp với quyển sách anh ta dịch và, sách và người dịch khớp vào nhau, như thế nào thì chuẩn xác với trường hợp Nguyễn Công Nam dịch Bốn tình yêu và Một thử nghiệm phê bình; không lạ khi biết tin Paradise Lost là lựa chọn của Nguyễn Công Nam, điều ấy tự nhiên 

ps. vậy là sau Xuân Trường, đây là dịch giả thứ hai của Forma tôi ấn tượng; ngợp luôn

2.1.26

huyên náo




tôi chưa bao giờ thích đọc Nguyễn Huy Thiệp, vì viết quá lạm dụng sự kiện, chi tiết... nhiều quá làm cho truyện nào cũng thành ồn ào, huyên náo như một nồi lẩu ngồn ngộn các thứ thêm vào

quên đi



"có tin là Bảo Ninh đã viết xong cuốn tiểu thuyết thứ hai cũng về chiến tranh với tên gọi Thảo nguyên, nhưng ông ngần ngại xuất bản nó, thậm chí miễn cưỡng nói về nó [...] Cuốn tiểu thuyết nghe nói lấy bối cảnh Nam Việt Nam năm 1974 kể về một gia đình chạy dần về phía nam khi quân đội Bắc Việt tràn tới và sau đó di tản [...] 

Bảo Ninh từ chối nói gì nữa về cuốn sách thứ hai của mình, xóa nó đi bằng thái độ im lặng cố ý. "Tốt nhất là anh nên gặp các nhà văn khác, họ có nhiều mà. Chứ đừng gặp tôi", ông nói. "Tôi đã không nghĩ đến cuốn sách ấy nữa - ý nói Nỗi buồn chiến tranh - lâu nay rồi." Tất cả các nhà văn, ông nói thêm, đều viết những cuốn sách để quên đi. "Muốn viết gì về cuốn đó thì cứ việc, nhưng xin đừng bắt tôi nói về nó"



trích trong bài của Rohit Inani, 2018, Ngân Xuyên dịch từ tiếng Anh in trong viết & đọc - chuyên đề mùa xuân 2019. Bài gốc đây https://dvan.org/2018/12/the-long-silence-of-bao-ninh/. Với tôi, bài này có nhiều chi tiết, dẫu tôi không đọc Bảo Ninh lâu lắm rồi, sau Gió dại tôi không đọc thêm gì, như thế thì cũng phải 15-16 năm rồi, nhưng sau bài này thì sẵn có Mùa đông bão tố của Bảo Ninh in trong viết & đọc - chuyên đề mùa thu 2019, tôi đọc luôn, cũng chỉ bởi mở màn nhắc lại tiếp tục mốc nhập ngũ 1969 ["500 thanh niên ra trận năm 1969, Ninh là một trong số mười người sống sót trở về, sau đó sáu người trong số đó đã tự tử..."] - như một ghi chép/tản văn về không khí chiến tranh biên giới 1979 trong lòng một bộ phận con người, thanh niên Hà Nội, mà như Bảo Ninh nói, ông không dám viết về nó

1.1.26

queer reading




hôm nay pass quyển Frankenstein bản nhà KĐ cho một bạn trên nhóm hội trao đổi sách cũ; nhắn tin qua lại mới hay, bạn mua đọc phục vụ cho bài luận giữa kỳ; tò mò hỏi thì biết chủ đề được giao. Bây giờ hay ra đề bài liên quan đến giới, nữ quyền nhỉ; nếu để đối phó thì, chủ đề này có bài đăng rồi, ngồi ném văn bản tiếng Anh cho phần mềm hay gì đó dịch cũng xong :))); thời này AI nó xâm lược đời sống như chốn không người


mỗi khi nghĩ đến Frankenstein, tôi hay nghĩ đến Paradise Lost - Địa đàng đã mất [Mary Shelley đã lược bỏ phần đề từ mở màn bằng mấy câu Paradise Lost, X của John Milton ở ấn bản 1831]. Bản NN tôi đọc dịp tết 2010, thấy tờ lót quyển sách tôi ký tên ngày í, thì là chuẩn mốc thời gian rồi; còn bản KĐ tôi vừa ngó qua, cũng như bản NN, đều dịch theo bản 1831 mà Mary Shelley đã sửa đổi so với bản đầu 1818 tên tác giả vô danh [căn cứ ngay chi tiết Elizabeth đã được sửa thành đứa trẻ mồ côi là biết thôi]; nhưng bản NN tôi thích hơn hẳn, đây là một trong những quyển chú thích được làm tốt



không có câu trả lời




Chúa chỉ đang ngủ và thế giới này thực ra được dựng lên trong giấc mơ của Chúa [...]
Chúa đang ốm nặng [...]
Thế giới là một lò mổ và một nhà thổ [...] 
Nếu Chúa là sự thông thái, thì làm sao lại có thể có cái chết? Ban đêm, tôi thức; con người nhỏ bé mong manh, con ruồi gần như bị nghiền nát, và tôi nói chuyện với những người chết, với những người sống, với Chúa - đấy là giả định ông ta có tồn tại - và với Satan - hắn thì chắc chắn có tồn tại. Tôi hỏi họ: Tất tật những cái đó có tất yếu hay không?" Và tôi đợi câu trả lời [...] Có tồn tại một câu trả lời ở đâu đó hay không?

không, không có câu trả lời đâu


bài viết Hiện sinh Do Thái của Nguyễn Chí Hoan về Shosha của Isaac Bashevis Singer, bây giờ tôi mới đọc trên giấy. Đọc đúng là luôn phải diễn ra trên giấy, đọc qua cái màn hình máy tính, điện thoại etc. thường chẳng đọng lại gì. Hồi ấy đọc xong Shosha, không hiểu tại sao đã mấy giờ sáng rồi, tôi còn nhắn hỏi một anh bạn sách, sao bố anh lại đặt tên anh như tên anh hiện nay etc. ông đã luôn chọn không đi, không phải trung trinh giữa đi hay không đi, mà đã luôn chọn không đi vì đi, có lẽ, theo cách nói của Nguyễn Chí Hoan, "triển hạn, một lần nữa, cái thân phận lưu vong". Hơn 6 năm, kể từ lúc hỏi anh bạn sách đêm ấy cho đến tận lúc này, tôi cũng không hiểu tại sao tự nhiên tôi hỏi như thế ngay khi gấp Shosha lại, mà lại phải hỏi tức thì. Tôi kì cục