Over and over I whisper your name. Over and over I kiss you again
TT&NT

11.4.26

sinh học xã hội




Về bản tính người là công trình sinh học xã hội của nhà sinh vật học và tự nhiên học người Mỹ Edward Osborne Wilson; sinh học xã hội nghiên cứu có hệ thống về cơ sở sinh học của mọi hình thức tập tính xã hội ở các sinh vật, trong đó có con người. Nếu hiểu sinh học xã hội là lý thuyết cho rằng hành vi con người được quyết định bởi các gien hoặc ít ra, chịu ảnh hưởng lớn từ các gien - sinh học, chứ không phải học tập, nhận thức - ý thức mà có... thì cũng không sai. Cái gì còn tồn tại qua các đợt biến chuyển thì hẳn là nó phải cần thiết, phải đủ mạnh thì mới còn tồn tại, những cái khác dần được điền vào di sản sinh học [cái còn lại luôn mang theo các câu chuyện về cái trở thành di sản]

nhưng con người lại có những nan đề, như David Hume đặt ra: tinh thần của con người hoạt động như thế nào, tại sao nó hoạt động theo cách này mà không theo cách khác, rốt cuộc, bản tính tối hậu của con người là gì

là người, thì có cần hiểu bản tính người không, hay cứ tự nhiên để thực nghiệm mở mắt cho chính mình nhìn mình và mắt mình mở to nhìn xã hội người. Dẫu vẫn biết người là những khối phức hợp môi trường, gien - sinh học tác động tới hành vi xã hội; không hành động, ý chí nào thoát được tự nhiên, gien, và hiển nhiên của ý niệm mênh mông mang tên định mệnh... nhưng, tại sao tôi vẫn dùng mấy ngày tâm trạng chán mớ đời này để đọc một quyển sinh học xã hội đau đầu trong khi biết rõ không có đâu, câu trả lời rõ ràng cho các nan đề; và, tại sao lại cần câu trả lời. Là tôi đang không đầu hàng hả, tôi đang chấp nhận thách thức để tiếp tục khám phá và giải quyết các nan đề làm người à. Thật cố chấp, đau hết cả đầu [may mà lúc này tôi đọc luôn, vài năm nữa chắc tôi vứt luôn chứ đọc gì; tôi phải thực sự kỷ luật với việc giữ sách gì quanh tôi]

xong rồi chiều nay đọc nốt quyển Vườn thú người [hôm qua đọc Vượn trần trụi, đều của nhà động vật học người Anh Desmond Morris; tác giả Về bản tính người và tác giả bộ đôi vượn trần trụi này same same tuổi nhau, 1929 và 1928], nó đúng quan điểm tôi vẫn luôn nghĩ, rằng môi trường sống hiện nay của con người, cái được cho là văn minh, phát triển tinh tế, thậm chí còn không giống một khu rừng nhiệt đới bằng bê tông như được ví von, mà giống vườn thú người nhiều hơn. Cuộc sống đô thị, man rợ được bọc nhiều lớp giấy thơm để trở thành văn minh thay đổi tập tính con người thế nào; tất nhiên mức độ văn vở ấy của xã hội thì con người sống trong nó làm sao lại không gia tăng bạo lực và lo âu được. Còn cần tìm nguyên nhân sự căng thẳng giữa cấu tạo sinh học hay những gì thuộc về sinh học và văn hoá, ý thức của chúng ta hay sao

nhìn con vật người - vượn trần trụi trong tình yêu, công việc, chiến tranh... với tất cả những gì nền tảng nhất của nó: các tập tính chịu ảnh hưởng của gien sinh học, của quá trình phát triển từ các di sản sinh học - là họ hàng của con vượn. Bóc tách nó khỏi mác văn minh khoác các lớp ngoài, ta nhìn nó ăn, ngủ, tán tỉnh bạn tình, yêu đương, giao tiếp xã hội, làm đỏm tô vẽ bản thân, chơi trò chơi gia đình, trò chơi quyền lực thống trị và chiến tranh... quyển sách không cho thấy con vật người từng ở thiên đường, bị đuổi khỏi thiên đường, là thiên thần sa ngã - không đâu, đấy là ý nghĩ của ta trong một chuyển động lãng mạn thôi, khi trong bầu không khí văn chương chẳng hạn; nó chỉ cho thấy một con vượn tiến hoá, lên ngôi, dẻo dai như cái nhìn của Darwin, thêm các giọt nghị lực và tưởng tượng nữa. Đấy chính là con vật người - vượn trần trụi

đến đây, quay trở lại quyển đầu tiên tôi đọc và nỗi đau đầu của tôi; tại sao, tại sao chứ, con vượn trần trụi này rốt cuộc có nguồn gốc như vậy, sống trong xã hội mà nó dựng nên như vậy, thì tại sao tôi cố chấp cần hiểu, cần các lời bủa ra khi các nan đề về con người, được nghe thấy
thật sự ngu si 🙂 [Milan Kundera nói rồi mà]

ps. quả tình là khi viết ra những gì lởn vởn trong đầu, tôi qua cơn chán mớ đời thật; dù tôi biết, ngay sau đó, rồi tôi lại chuẩn bị vào phase chán mớ đời tiếp và tiếp. Có chơi có nghiện, có nghiện có chịu 

10.4.26

avoidant



hạn chế, tránh gần gũi người khác, giữ khoảng cách các mối quan hệ, thoải mái hơn khi ở một mình, sợ kết hôn sợ sinh con vì sợ trách nhiệm sợ sự hiện diện luôn luôn của người khác bên mình, nhạy cảm... điển hình của nhân cách tránh né. Type người này dường như đang phân nhánh một loài mới từ nhân loại đã tồn tại bấy lâu

niềm an ủi của những người này là chìm vào việc đọc những thế giới tưởng tượng do người khác viết ra. Hay là, công việc phù hợp với họ là ở một mình trong căn phòng, để viết, thế giới mộng tưởng mà họ thoải mái một mình, không thấy phiền hà, thay thế cho thế giới hiện hữu mà họ luôn cảm thấy bị gánh nặng phiền toái tròng vào cổ. Một nơi chốn nữa là nơi tránh xa thế gian, đi tu, chẳng hạn thế; lên núi chim kêu vượn hót, hay ra đảo uống nước dừa với khỉ, đều tốt, miễn là ít người, càng ít càng tốt. Một nơi nữa kết thúc mọi phiền toái mà nhiều người thuộc type này đã chọn [thành công hay không, còn trông mong ý chí của các Đấng]: tự giết mình để đi đến chốn không còn sự sống khác, chỉ có địa ngục khác

những trường hợp tôi biết điển hình nhân cách tránh né [tôi biết, nhiều người sẽ nói, chẳng phải tôi đang trỏ chính tôi hay sao]: Kierkegaard [trong tình yêu, Nhật ký kẻ mị tình là bằng chứng, đi tìm một ảo mộng trong tâm tưởng] và Hermann Hesse [trong cách phản ứng với người mẹ]

sách này không phải của tôi mua đâu, của bạn A. đấy; tôi là type người lãnh đạm, không care đến chính những vấn đề tâm lý, tinh thần mình đang có; nhận thức có nó, nhưng không tìm cách can thiệp, cũng không cố làm nó thoái lui... đơn giản là kệ thôi. Phương châm như lời thề ngành y mà tôi hiểu là 80% tự khỏi, 20% là đừng cố làm nó trở nặng. Thế chẳng phải chữ kệ mới tuyệt làm sao sao 🙂

9.4.26

ngược



cầm sách bạn gửi cho đọc từ mấy tháng trước nhưng đến tuần vừa rồi tôi mới mở Ngược gió ra xem, trong lúc đang chuẩn bị đọc nốt Đỗ Thúc Vịnh. Khi mở Ngược gió ra, thấy trang lót ghi hồi ký, mở vào bên trong, đập ngay vào mắt là Tôi [tác giả: bà Thiếu Mai] chào đời 1917 tại đất Thăng-Long ngàn năm văn-vật... liếc mắt xuống dưới, lại thấy "tôi" lớn lên ở một ngõ nhỏ kẹt giữa phố Hàng Gai và phố Bờ Hồ - là ngõ Hàng Hành etc. ngay tức thì, tôi buột miệng nói cho chính mình nghe: hồi ký mà lại khu vực Bờ Hồ, Cột Đồng Hồ à, hay lắm, phải đọc thôi, may mà ông í gửi cho mình :))) [thank youuu :)]

hồi ký Ngược gió của bà Thiếu Mai [chồng là ông Hùng, nên bà lấy tên là bà Vũ Bá Hùng, tự Thiếu Mai; tên thời con gái là Hòa; về sau khi hoạt động phản gián, bà có tên TV - Tường Vân] được bà bắt đầu viết vào giữa năm 1970, có một quãng ngắn vài tháng ngừng viết vì hơn 10 dây chằng đầu gối đứt, phải phẫu thuật, bình phục, bà viết tiếp, hoàn thành vào cuối mùa thu 1971. Nhắc đến quãng dừng kia, vì nó cũng chia cuốn hồi ký gần 550 trang này thành 2 phần tôi thích và không thích rõ rệt

phần tôi thích, ngay từ đầu thôi thúc tôi đọc, là tôi muốn biết cuộc sống của những con người khu phố cổ Hà Nội vào những năm đầu thế kỷ 20, nhất là bọn trẻ con thời ấy học những cái gì, chơi gì, ăn gì, chửi nhau đánh nhau ra làm sao etc. Tiểu thuyết đã đọc cho biết điều tò mò này qua các mảnh các chi tiết nhỏ, nhưng hồi ký thì càng đáng tò mò hơn chứ. Và đúng mong đợi, phần này bà Thiếu Mai kể rõ mồn một như hiện ra trước mắt đường phố, các ngõ, ngõ Hàng Hành bao nhiêu nhà, bên chẵn bên lẻ số bao nhiêu đến bao nhiêu, mỗi bên bao nhiêu gian nhà... bọn trẻ con đi học thế nào, các ông giáo ngày xưa ra sao, về nhà phải học thêm mỗi ngày 1 giờ chữ Hán do thày [thày - bố] dạy thế nào, trung thu những món gì, leo cột mỡ có đúng câu vè tham tiền cột mỡ, rủ nhau phá Tây lông ra sao... rồi thì các ông rủ nhau chơi tổ tôm vẫn câu, như đến tận giờ người ngoài Bắc hò nhau đi chiếu bạc, đại để: đủ chân chưa :)))

đấy là phần tôi thích nhất; đến giai đoạn bà Thiếu Mai khoảng 14-15, năm 1931, biết dịch thơ, rồi viết lách đăng báo, quen Tú Mỡ, Thế Lữ, Vũ Trọng Phụng... thì tôi bắt đầu không còn hứng thú ban đầu. Bắt đầu từ giai đoạn bà Thiếu Mai viết thư xin làm việc cho Pháp - mà như thày/bố bà nói ban đầu "đã chống Pháp rồi nay lại theo Pháp", từ đây là tôi bắt đầu không còn thấy hồi ký này thu hút như trước nữa. Bà Thiếu Mai làm trong bộ phận phản gián của Pháp, rồi một người Việt làm trong tình báo của Nhật đã báo trước cho bà về lệnh thanh toán trừ khử và xin bà biến mất khỏi mắt ông ta... thế là chạy vào Saigon, vẫn tiếp tục vai trò cũ, lấy chồng và lại gặp lại người tình báo Nhật kia lần nữa, ông ta lại mong bà biến mất cho khuất mắt ông ta vì lần này chỉ thị chỉ cho 5 ngày để thanh toán [đoạn này có một chi tiết tôi lác mắt, đại để bà Thiếu Mai đòi chồng, cùng nhau vào sòng bài Đại Thế Giới xem cho biết trò đỏ đen làm người ta hóa rồ (để khuất mắt ông tình báo kia, còn đọc mảnh giấy ông ấy đưa), thế là ở đây có chi tiết, một bà chơi thua tới độ, chạy ra hàng cầm đồ ngay đấy, cởi cái quần đen ra để cầm cố, giữa chốn đông, cởi quần ngoài ra cầm cố, trơ ra bên trong một cái quần dài mặc lót màu trắng (chắc là cháo lòng)]... rồi etc. etc. nói chung, cái pha thấy may nhất là, từng làm phản gián cho Pháp, tưởng rửa tay gác kiếm làm dân thường rồi thì lại bị Nhật ép phải làm gián điệp cho Nhật do 1 tay VN làm cùng chỗ Pháp kia chỉ điểm [tay này vốn của Nhật cài vào nằm vùng ở phía Nam] đang vào thế lưỡng nan thì thoát kịp bởi một lý do rất may mắn: tay chỉ điểm kia hóa ra là điệp viên hai hàng - điệp viên song trùng: vừa gián điệp cho Nhật, vừa bắt tay với quân Đồng Minh, thế nên tay chỉ điểm này lộ thân phận là lo thoát thân luôn, chính thế vị tướng Nhật kia cũng chẳng còn nhớ đến đầu mối TV - Tường Vân bà Thiếu Mai mà tay chỉ điểm gợi ý

rời Saigon vào tháng 10/1945, ở Hà Nội và các vùng công tác, cùng chồng "Hùng của tôi" làm kinh tế phát đạt dẫu tình cảnh rối ren, cho đến 1954, như nhiều người Bắc di cư Nam, vợ chồng bà Thiếu Mai cũng lên đường vào Nam. Đây là đoạn nói với Bác sĩ Tuyến, năm 1959 - Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị xã hội, còn được biết với biệt danh Trùm Mật Vụ, khi bà Thiếu Mai bị kéo vào sự vụ Hội Duc - Anh mà theo lời Bs Tuyến thì đây là chỉ thị của Tổng thống và bà Cố Vấn ảnh hưởng an ninh quốc gia; đoạn này nói quan điểm và lý do dẫn đến quyết định di cư 1954: "sở dĩ ông cũng như chúng tôi từ miền Bắc và miền Bắc Trung - Việt dắt nhau vào đến miền Nam hằng được mệnh danh là "mảnh đất của tự do" nầy, cũng vì chúng ta không chịu nổi cái chế độ độc tài của bọn CS vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc..." Cuốn hồi ký có thể xem là dừng lại tại đây, cảnh cuối là vợ chồng bà Thiếu Mai gặp lại bs Tuyến với dáng thư sinh mặc áo trắng ngắn tay trong rạp chiếu phim và ông ta gật đầu mỉm cười...

cuốn hồi ký viết xong tại Saigon, cuối thu năm 1971 và bản in trong ảnh của nxb Đồng Nai năm 1972. Lý do tôi không thích 2/3 sau của cuốn hồi ký, đặc biệt là các đoạn đối thoại, các đoạn kể lại hành động của bà Thiếu Mai... đơn giản thôi, tôi không thích bà ấy, tôi nghĩ "chém gió hơi nhiều". Tiểu thuyết thì chắc chắn phải có hư cấu, từ lúc chất hư cấu tham gia, câu chuyện mới thành hình dáng tiểu thuyết. Không ai nói hồi ký thì không hư cấu, thậm chí nói ngay cho vuông, chính hồi ký của một người có nhiều thứ để kể thì lại càng hư cấu ác... nhưng liều lượng quá đà thì hẳn là chém gió rồi Ngược gió ơi

[thôi, tôi ngủ, lại 2r sáng rồi, có gì mai sửa typo]


8.4.26

slow

 


picture book Dạo bước với thời gian, H. tặng [thank youuu ❤️], như một niềm an ủi để tú kiên nhẫn đi qua mùa đông trong cảm xúc của mình. Món quà từ trước Tết - đêm nhạc cuối năm của Cầm, tú đọc ngay đêm í, hôm nay trước khi cất lên giá thì mở lần nữa ngắm tranh, vì picture book mà, rất ít chữ, có thể vì ít chữ, mắt tập trung vào màu sắc, nét vẽ và nhận biết cảm xúc của mình qua tranh... mà mùa đông muôn đời buốt giá có thể chịu đựng được hơn một chút

[sách do Slowbooks phát hành, đây là đơn vị làm sách tranh thiếu nhi độc lập tại Việt Nam, thúc đẩy sự tham gia của các tác giả, họa sĩ và nghệ sĩ sách tranh Việt Nam để tạo ra những tác phẩm có tính giáo dục và thẩm mỹ cao, với mong muốn tạo ra những tác phẩm sách tranh chất lượng tập trung vào chủ đề: môi trường sinh thái và hạnh phúc của trẻ em]


7.4.26

ĐTV

 


đọc Đỗ Thúc Vịnh là tình cờ; anh bạn sách tiện gửi quyển tiếng Pháp của Italo Calvino để cùng vừa tra từ vừa đối chiếu với bản dịch "bồi" cho Aventures, rồi gửi kèm mấy số vhnn dịch tiểu luận của Italo Calvino, thế nào lại ấn tiếp mấy quyển Đỗ Thúc Vịnh, nhồi thêm Ngược gió, à có quyển mình hỏi đích danh, bây giờ mới nhớ, quyển của Prosper Merimee. Vậy là lô này vào nhà từ cuối mùa thu vừa rồi, emi già ốm rồi mất, đọc trầy trật không xong, như người bụng không hẳn không đói, nhưng ăn thì không có cảm giác muốn ăn; cuối năm theo lệ, thường trả sách các bạn, nhưng không muốn trả khi chưa đọc, nên phải nhắn xin lỗi bạn trước, chán mớ đời quá mà

không biết tại sao lại ấn ĐTV cho tôi đọc. Trong 4 quyển thì thích Bóng tre xanh nhất, chắc nhiều người cũng sẽ thích như tôi, câu chuyện của nó điển hình làng quê Bắc bộ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, thân phận con người nói chung, đặc biệt là phụ nữ, sống không được là một con người; về sau, trong Những người đang tới, nhân vật Văn viết tiểu thuyết [đáng nên nói ở Mùa ảo ảnh, nhưng trong một đoạn viết hơi vụng ở Những người đang tới, ĐTV mới nhét vào qua mảnh hồi tưởng của nhân vật], một trong số đó có thể chính là Bóng tre xanh; Hường đọc chúng và diễn giải nó theo con mắt cùng thân phận đàn bà, dẫu Văn từ chối cái nhìn ấy, nhưng sau đó, cái nhìn táo bạo của Hường đã trỏ đến cùng điều khiến Văn sững người: một xã hội như vậy, lớp có tri thức đã làm những gì để xã hội khác đi, thái độ của lớp này là như thế nào

khi chuyển sang đọc Dì Mơ, thì ngay từ đầu đã biết đây là Mơ trong Bóng tre xanh của những năm sau đó. Nhưng đi chỉ mấy chục trang, lấy làm khó hiểu, tại sao ĐTV lại đặt Dì Mơ là Dì Mơ vì ở đây, Mơ không phải là điểm đến, không phải là một trong các điểm đến. Bóng tre xanh và Dì Mơ nên đổi tên cho nhau; thậm chí gộp vào nhau thành Bóng tre xanh - sự yên ả của làng quê phía Nam thành, ngay trước cơn bão lớn của dân tộc; hay Bóng tre xanh thành Mơ [Mơ thôi, lúc này chưa Dì Mơ được, tên truyện một chữ tên nhân vật vốn là cái đã quen mà] còn Dì Mơ thành Bóng tre xanh

Mùa ảo ảnh và Những người đang tới là mở ngoặc dài và thành đích nhắm chính của ĐTV với nhân vật Văn - đại diện lớp thanh niên tri thức. Văn từ Hà Nội vào Saigon, Nam bộ, rồi lại trở ra Hà Nội, về phía Nam thành như tìm độ tĩnh; không ngờ từ đấy lại khiến Văn không ngừng bỏ cuộc, vào lại Saigon... cho đến ngày hay tin: quân cách mạng vào dinh Gia Long. Đây là 2 quyển điển hình những gì tôi sợ: lịch sử, "có chiến tranh"
[thôi, phải nấu cơm trưa tiếp đã, có gì tí tiếp tục]

đương




Những người đang tới là phần 4, cũng là phần cuối khép lại series Bóng tre xanh - Dì Mơ - Mùa ảo ảnh - Những người đang tới


Những người đang tới là gần 10 năm sau Mùa ảo ảnh, lúc này Văn đã gần 35. Tiếp nối vào 2 năm 1945 - 1946 Mùa ảo ảnh, câu chuyện nhấn vào các mốc 45 - 46 - 48 - 54 và tại thời điểm 55, một lớp thanh niên tiếp tục loay hoay... cho đến 63


[buồn ngủ rồi, cuối cùng cơn ngủ đã tới; tắt đèn thì tỉnh, không ngủ được; bật đèn cầm sách thì buồn ngủ; cứ như vậy cả đêm thì hết quyển sách và 3r sáng rồi... ngủ thôi]

6.4.26

so, goodbye

 


trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, trước thời điểm Orhan Pamuk được Nobel Văn học 1 năm, khi được hỏi: Ông viết cho ai?

Pamuk nói: "khi đời mình không còn dài, anh sẽ tự hỏi câu ấy thường xuyên hơn. Tôi đã viết bảy tiểu thuyết [tính đến thời điểm cuộc phỏng vấn diễn ra]. Và tôi muốn viết thêm từng ấy cuốn nữa trước khi chết. Nhưng đời quá ngắn, sao cứ phải dành thêm cho nó? Thỉnh thoảng tôi phải ép buộc mình. Tại sao tôi làm những việc này? Tất cả chúng có nghĩa gì chứ? Trước tiên, đó chính là bản năng sống cô độc trong phòng. Thứ hai, đó là phần tính cách ganh đua rất trẻ con trong tôi luôn muốn viết một cuốn sách hay nữa. Tôi ngày càng ít tin vào sự vĩnh cửu của người viết. Chúng ta đọc rất ít các tiểu thuyết ra đời cách nay hai trăm năm. Mọi thứ thay đổi nhanh đến nỗi sách hôm nay sẽ bị quên lãng trong một trăm năm tới. Chỉ rất ít cuốn còn được tìm đọc. Hai trăm năm nữa, trong số sách thời đại này có lẽ chỉ còn năm cuốn sống sót được. Tôi có chắc mình có cuốn nào trong năm cuốn ấy không? Nhưng liệu đó có phải là ý nghĩa của việc viết văn? Tại sao ta phải bận tâm đến việc sách mình như thế nào sau hai trăm năm nữa? Tôi cứ nghĩ về những điều này và tôi tiếp tục viết. Không biết tại sao. Nhưng tôi không bao giờ dừng lại. Niềm tin rằng sách của mình sẽ có vai trò gì trong tương lai là niềm an ủi duy nhất để ta vui sống trong đời."
[đoạn dịch bài phỏng vấn trên của Phan Triều Hải trong Viết và đọc 2019: Không thể sống mà không viết; bài phỏng vấn này trước đó, 2013, đã in trong tiểu luận Những màu khác]

niềm tin... là niềm an ủi duy nhất. Tôi cũng không biết theo năm tháng, ở vai trò người đọc, những quyển sách nào còn sống sót trong nhà tôi, tức là, tôi còn đọc lại chúng, đọc lại đọc lại và đọc lại. 1 năm trước, tôi gói gọn, tôi sẽ chỉ giữ lại sách của tác giả các thế kỷ trước, sau ít nhất 2 vòng đọc có độ lùi thời gian từng vòng - họ luôn giàu sức sống và nhiều dinh dưỡng cho cơ địa tôi; thế kỷ 20, tôi đã nghĩ, có lẽ sau Thế chiến 2 độ 2-3 chục năm mà tác giả chưa viết bất cứ gì đáng, thì... thôi, tôi giữ mà làm gì, chỗ chỉ có như vậy, phải thật xứng một vị trí trong đấy. Tôi đã nghĩ thế, cũng chưa chắc rồi thế nào. Năm nay tôi phải giải quyết nhiều tác giả, một lần cho xong, không luyến tiếc và nhất là không hồ nghi nữa. Mà như thế thì, chỉ cần đọc

ps. hôm trước tôi gặp một đứa tiểu iêu, tôi mắng nó uống vừa thôi, môi nứt toác, tỳ báo động rồi, mắt thì vàng khè ra, uống ít thôi. Nó gật, bảo: thế uống nốt hôm nay thôi nhớ, mai nghỉ. Tôi đùa, thế không nghỉ đi thôi, lại còn uống nữa chắc. Rồi tôi nghĩ về thân tôi, cứ cho trung bình 3 ngày đọc 1 quyển, năm chắc 100 quyển, vị chi hết khoảng 2000 còn lại hiện nay trong nhà thì mất cỡ 20 năm, nếu không rước về thêm; 20 năm cơ á, ối giời ơi, tôi lấy đâu ra tận từng ấy năm :))) nghe mà rợn thay tú, đọc vào mắt :))))