Over and over I whisper your name. Over and over I kiss you again
TT&NT

14.4.25

con chó săn trong sân



mở màn Thành phố trộm đã gây cho tôi chút phân vân, sao nó lại mở màn như cảnh đầu của một bộ phim không phải khẩu vị của mình thế này; đại để tác giả David chuyên viết kịch bản phim [David Benioff chuyển thể Người đua diều thành phim đấy] về các nhân vật siêu anh hùng biến đổi gene, rồi khi được đề nghị viết một bài chân dung tự thuật cho một tạp chí thì bỗng nhận ra mình đã sống một cuộc đời nhàm chán, trong lúc vật vã viết cho xong bài theo đơn đặt hàng kia thì quyết định mình không muốn viết về đời mình, mình muốn viết về Leningrad và ông nội chính là một kho những câu chuyện về Leningrad, người đã đoạt mạng 2 tên lính Đức khi chưa 18 tuổi. Và giờ đây, câu chuyện Thành phố trộm bắt đầu được ghi dựa trên lời người ông kể và đứa cháu nội - tác giả David bật máy ghi âm; một số chi tiết người ông nói "cháu là nhà văn cơ mà. Bịa bừa đi"

mở màn này ban đầu chưa thấy quen đâu, cho đến khi vào chuyện, chương 1, đúng như một bộ phim, David đã ghi đúng lời kể của ông nội, nhân vật xưng "ta", thí dụ "cháu chưa bao giờ chịu đói như thế cả, cháu cũng chưa bao giờ bị rét như thế. Khi bọn ta ngủ..." và ngay sau đó, câu chuyện cho biết bối cảnh của Thành phố trộm là mùa đông năm 1941 trong cuộc phong toả Leningrad tàn bạo của quân Đức. Tức là mặt trận phía Đông 1941 - 1945

đến đây thì tôi cũng sẽ như nhiều người, lập tức nghĩ đến Kaputt của Malaparte; không ngờ đến cuối sách, David Benioff có lời vinh danh Kaputt và đặc biệt là một quyển tên 900 ngày của Harrison Salisbury [lúc nào tiện tôi phải tìm hiểu mới được]

mở màn gây chút lăn tăn cho tôi, nhưng ngay sau đó, đã khiến tôi ngấu nghiến vì thích các nhân vật, chắc nhiều người cũng thấy như tôi, bộ đôi nhân vật Kolya và Lev quá thu hút [nhiệm vụ bất khả thi trong hoàn cảnh lúc ấy: phải kiếm về một tá trứng]; hồi bé tôi thần tượng những anh lớn cùng chơi như Kolya lắm [tôi là đứa em gái bé tí trong mắt các anh, lúc nào cũng được các anh cho làm bình vôi, bao bọc (giờ ở đây chỉ còn lại 2-3 anh, vì phần lớn đã không qua được giai đoạn "nghiện nghẹo", trết vì shock thuốc, thậm chí HIV); chính thế, tôi nghĩ mình không bao giờ thực sự đi vào thế giới của bọn con trai được :))); đọc bản dịch này, đúng là một phong cách giang hồ thế giới hồi bé tôi nhìn các anh lớn]

tên văn bản Con chó săn trong sân là một truyện Kolya hay kể; tôi thích câu chuyện nên dùng nó luôn; bản dịch có một từ, lâu lắm rồi tôi mới gặp "đằng thằng" 🙂

11.4.25

đọc Diêm Liên Khoa [Yan Lianke] tiếp

 



sau đúng gần 10 năm mới tiếp tục đọc Diêm Liên Khoa. Lần trước đọc theo thứ tự: Người tình phu nhân sư trưởng, Kiên ngạnh như thuỷ, Phong nhã tụng. Lần này tiếp tục với 4 quyển: Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Đinh Trang mộng, Ngày tháng năm, Tứ thư và thứ tự theo đúng trình tự sáng tác/xuất bản sẽ như trong ảnh

cứ tưởng sẽ không thể đọc tiếp Diêm Liên Khoa nhưng hoá ra vẫn có thể đọc trong hưởng thụ, đặc biệt là Tứ thư; câu chuyện Tứ thư không mới [trí thức trong guồng quay cối xay lịch sử, đại nhảy vọt, học tập cải tạo, "ăn thịt người"...; nhất là chương cuối mang tên Bản thảo, một lời ẩn dụ như cái nhìn toàn cuộc lịch sử từ trên cao cho Tứ thư và số phận con người trong guồng quay lịch sử, chế độ; mình vẫn hay đùa mọi người, nếu TQ có Nobel Văn học, khả năng cao réo Diêm Liên Khoa vì những Kiên ngạnh như thuỷ, Phong nhã tụng quá hợp tiêu chí Nobel (trong địa hạt châu Á, chắc khó lòng réo Murakami vì viết quá cá nhân), giờ có thể thêm Tứ thư], nhưng cách viết và cấu tứ của nó là điểm nhấn trong cả 7 quyển của Diêm Liên Khoa mình đọc

Nàng Kim Liên là một hình thức viết lại cho những gì đã quen, gột hình ảnh gắn với tên nàng Kim Liên của Kim Bình Mai và một phần Thuỷ Hử [bảo lúc nào có thời gian muốn đọc Tây Du Ký và Kim Bình Mai mà cứ lần lữa]; nói viết lại vì cùng nàng Kim Liên, cùng một vài nét tương đồng, chi tiết giống nhau nhưng nàng Kim Liên của Diêm Liên Khoa không phải Phan Kim Liên của 2 tác phẩm kể trên. Nàng Kim Liên lúc này xuất hiện ở vùng đất gắn với Diêm Liên Khoa: Bá Lâu [mà 10 năm trước, bản dịch thường dùng Bả Lâu], đây cũng là vùng đất của Ngày tháng năm; câu chuyện cũng dễ đoán, không mới, dễ đọc và khi gấp sách lại, người ta bùi ngùi như bao câu chuyện làng quê TQ [hay phim TQ về đề tài nông thôn]

bùi ngùi khi gấp sách lại, trong 7 quyển thì Đinh Trang mộng đứng đầu; tiểu thuyết khiến người đọc và ngay cả Diêm Liên Khoa là tác giả, cũng không khỏi hụt hẫng, áy náy vì mang đến sự đọc/viết đau đớn cho nhau. Văn học TQ thường làm người ta cười chua chát [không thể gọi là cười, vì cười đau đớn thế này thì ai dám định nghĩa khóc] ngay cả khi họ đang viết về một hiện thực tàn khốc đến phi lý; ở đây là căn bệnh AIDS những năm 90 thế kỷ trước và thập niên đầu thế kỷ này, xuất phát từ việc vận động người nông dân đi bán máu, làm giàu từ bán máu, bán máu thành kế sinh nhai và từ đấy cuộc sống của một vùng quê thay đổi tất tật, xoá sổ sự sống một thôn trang [câu chuyện được Diêm Liên Khoa viết dựa trên chuyện thật về một vùng quê khi Diêm Liên Khoa theo chân bác sĩ nhân chủng học cùng nhóm hoạt động đến trong vai trò người động viên tinh thần]. Một câu chuyện ám ảnh

trong 7 quyển thì Ngày tháng năm là một màu sắc hy vọng sáng sủa hoàn toàn khác với 6 quyển còn lại. Cũng vẫn là vùng đất Bá Lâu, nhưng Bá Lâu trong hạn hán. Cả làng đều bỏ đi tìm nguồn sống, nhân vật câu chuyện chỉ còn lại ông lão 72 tuổi, con chó mù và một cây ngô ông lão gieo hạt chăm nom như một tia hy vọng mỏng manh cho một tương lai không biết có thành quả, có đến hay không; cây ngô lúc này cũng trở thành một nhân vật quan trọng khi người đọc được chứng kiến từng trạng thái sinh tồn của nó, được ông lão và con chó mù chăm nom, cắt đặt thay phiên nhau bảo vệ tia hy vọng; ở phía bên kia, tạo kháng lực cho ông lão, con chó mù và cây ngô là chuột và sói và tất nhiên, cả ông Trời [sao mãi không mưa]. Người đọc thường sẽ biết motif quen thuộc Ngày tháng năm, nhưng vẫn đọc, vì đó là một câu chuyện về hy vọng và người ta thường sẽ dõi theo hy vọng của kẻ khác như thầm cầu nguyện nuôi hy vọng chính mình [như mình dõi theo thì hy vọng của kẻ khác cũng được nuôi thêm hơn nữa], thêm nữa, đây là một câu chuyện lạ nếu đã quen đọc Diêm Liên Khoa

có lẽ về sau tôi vẫn có thể đọc Diêm Liên Khoa. Tứ thư sáng tác 2010, câu chuyện không mới nhưng Diêm Liên Khoa dám viết lung tung không vì việc xuất bản, chuẩn bị tinh thần "văn học đút ngăn kéo" không trông đợi được xuất bản, gọi là phản đồ của viết lách, hoàng đế của viết lách chứ không phải nô lệ của bút mực, dám triệt để tự do giải phóng từ ngữ và luận thuật cho việc viết như nói bạt mạng, bạ đâu nói đó về hàng ngàn hàng vạn trí thức [hình như 23300 trí thức] còn sống và đã chết cùng thời kỳ lịch sử bị lãng quên... "trời phải đổ mưa. Cô dâu phải về nhà chồng. Phản đồ thì cứ việc là phản đồ thôi". Người ta dám viết một câu chuyện không mới với cách viết mới. Tôi không có lý do gì không đọc và tiếp tục đọc, dẫu với tôi, văn học TQ luôn cho tôi cảm giác họ cường điệu, làm quá, kịch quá; nếu đơn vị xuất bản tiện xuất bản vài qua quyển nữa thì tôi cũng sẽ tiện gom gom đọc một thể; tôi quen với việc đọc xong thì đẩy đi rồi, cần đọc muốn đọc thì tìm cách đưa về nhà đọc, đọc xong không quá lưu luyến như xưa, đều có thể đẩy đi được 🙂


9.4.25

ỉu xìu




tôi nói khi mình thấy khó lòng chịu đựng con người [bao gồm cả chính mình, tất nhiên], cuộc đời [tất nhiên, gồm cả đời mình, tất nhiên rồi], tất tật etc. tôi có xu hướng đọc Céline, Houellebecq. Bởi ngủ khó. Như thế thì bất hạnh. Mà như thế thì, sẽ yên lòng hơn khi thấy bất hạnh của kẻ khác. Đúng là đang bất hạnh, ta sẽ lên giường ngủ dễ hơn, gần như là bình tâm, yên lòng, khi thấy những bất hạnh của kẻ khác dẫu chẳng ai hiểu cho hết được bất hạnh của kẻ khác [nghịch lý chói gắt]


chiều nay, trong một lúc đầu óc lấp đầy bỏng ngô, nhìn từ lối mình là Schopenhauer, tôi tóm Michel Houellebecq qua Serotonine làm truyền nhân [Houellebecq thuộc lối Schopenhauer ư :))), chắc nhiều người thấy đây là nghịch âm, vì Houellebecq ít nhắc Schopenhauer, vì người ta cho rằng Schopenhauer là bi quan etc.], tôi bừng sáng cái tên Die Welt als Wille und Vorstellung và tôi không chấp nhận một cái nhan đề sách dịch nào hiện nay cho Die Welt als Wille und Vorstellung [một dạo người ta cãi nhau nhiều về Wille về Vorstellung, càng đọc người ta nói tôi càng không hiểu người ta nói gì và phải hiểu Schopenhauer nói gì khi đọc người ta nói về Schopenhauer]


có Schopenhauer ở đây, là trong Serotonin [Thuận dịch], Houellebecq nhắc tới Schopenhauer khi đưa ra cùng một từ yêu nhưng ở đàn ông và đàn bà nó là hai hiện thực hoàn toàn khác nhau [nhiều triết gia cũng nói rồi, như là, tình yêu là đích đến tiên quyết và tối thượng với phụ nữ nhưng nó lại chỉ là một phần trong đời người đàn ông etc.]; ở đàn ông là một kết thúc một hoàn thiện còn ở đàn bà là một bắt đầu một ra đời; còn Schopenhauer thì sao, tình yêu là bản năng duy trì nòi giống, yếu tố quyết định gắn kết trong tình yêu không phải cảm xúc cá nhân mà là bản năng giống loài. Trong 2-3 trang gần như cuối Serotonin, Houellebecq làm một pha chặt một lúc 2 nhân vật của tôi, cả Goethe và Thomas Mann [dù là nhân vật của tôi nhưng tôi không hề khó chịu, tôi còn lấy làm khoái trí vì lối nhìn của Houellebecq, kiểu lão được lắm, chởi Goethe chởi Mann của tôi, được lắm; cũng may mắn cho tôi là tôi chưa đọc gì mấy Maurice Blanchot, chứ tình cảnh của Blanchot trong Serotonin còn ẹ hơn :))) một cô nàng người tình cũ của nhân vật chính Florent Claude Labrouste (tên chán thật) - một cô nàng chán phèo với sự nghiệp diễn viên chưa hé nở đã lụi, được đề nghị một công việc đọc những đoạn trích của Blanchot trên đài "chưa bao giờ em ngờ được ở đời có những thứ kinh tởm như thế, thật không thể tưởng tượng nổi người ta dám đề nghị công chúng nghe những thứ ngu xuẩn đến thế" và nhân vật Florent nói không có ý kiến gì về Blanchot và trích ngay ý kiến của Cioran nói rằng Blanchot là tác giả lý tưởng để học cách đánh máy bởi vì người ta "không bị nghĩa của câu từ làm gián đoạn" :)))] trong pha này, Houellebecq nhại theo giọng của Proust cuối Đi tìm thời gian đã mất "nhà văn hoàn toàn không cần những cuộc chuyện trò tri thức mà cần những mỗi tình dịu dàng của các thiếu nữ đương hoa" và Houellebecq muốn thay "những thiếu nữ đương hoa" bằng "những cái hĩm ẩm ướt" [tr322, trong mấy trang áp chót này, có rất nhiều thứ có thể xem là cái nhìn của Houellebecq về văn chương một số nhân vật; tôi hơi bất ngờ cái tên Conan Doyle, cũng giống như ở Plateforme tôi bất ngờ khi Houellebecq réo tên Agatha Christie với The Hollow]. Gần đây, tôi hay xem những video của các cô gái Thái vẫn còn mặc trang phục váy quấn quấn, họ nấu ăn và thường kèm theo cụm từ đại ý nấu theo cách "my countryside" nhìn họ chế biến thực phẩm tôi theo con mắt của phụ nữ nghĩ bụng: nếu mình là đàn ông, chắc gout của mình là những người phụ nữ như thế này, hết sức thuần tuý, những người đàn bà đơn giản [người ngợm hình thức dịu dàng, ngoan, nhà cửa cơm nước, chiều chồng], nhìn họ, điệu bộ, cử chỉ, cách làm bếp, cách ăn cách uống [dẫu Chúa mới biết những cô gái Thái này có phải là gái hay không] hết sức tự nhiên, phồn thực, thuận phục [nghe Hầu tước Sade nhỉ, nhiều khi tôi cứ miên man nghĩ về cuộc sống của người vợ Hầu tước Sade, 2 con người khác nhau nhiều như thế, giống nhau nhiều thì nguy rõ ràng rồi, nhưng khác nhau nhiều đến như thế, thế mà trường đoạn dài bà ấy có vẻ tôn thờ ủng hộ lối sống của Hầu tước Sade; trong Serotonin, Houellebecq cho nhân vật Florent của mình mở tuyển tập Hầu tước Sade ra và tưởng tượng mình đóng vai trò gì, hành động thế nào tư thế ra sao trong những tranh minh hoạ ở tuyển tập; các nhân vật của Houellebecq rất hay có ý nghĩ và tưởng tượng buồn cười, bắn một đứa trẻ, con riêng của người tình cũ thì thế nào (gần như đã tiến hành chứ không còn trong giới hạn tưởng tượng) hay giết một người tình khó ưa thì đi tù đời sống sẽ ra sao trong tù, được thoát khỏi những thủ tục hành chính nhưng khả năng cao sẽ bị hành hung hãm hiếp trong tù etc. etc.]; tôi liền nghĩ đến Houellebecq trong Plateforme đi Thái để tận hưởng du lịch tình dục và ở Serotonine vẫn thường nhắc đến việc đi Thái để giải quyết vấn đề khơi lại ham muốn tình dục etc.


"thế giới" như là sự biểu hiện trước tiên của cơ thể và cơ thể là biểu hiện theo/đi sau của thế giới. Serotonin hay các hormone trong cơ thể cũng vậy, là cách để hiểu biết về thế giới/sự vụ và thế giới/sự vụ biểu hiện: sự trơ cứng của những rạn nứt. Không hẳn là tôi buồn hay tôi chán hay tôi trết vì sầu não mà là ra sức duy trì trạng thái vĩnh viễn nếu nhìn vào tất tật những gì quanh nó: bình lặng, ổn định, không có khả năng tăng, cũng không có khả năng giảm; nghe thật khốn khổ, nhưng nếu không duy trì trạng thái bình lặng ổn định chán ngán đứng yên này thì trơ cứng chuyển sang rạn hết nứt hết, mèo còn cái gì để mà nhìn vào nơi từng là chỗ cho rạn với nứt với trơ cứng hồ như ịn vào. Nói rồi, đang bất hạnh, ta sẽ lên giường ngủ dễ hơn, gần như là bình tâm, yên lòng, khi thấy những bất hạnh của kẻ khác. Nên, tôi đọc Céline, đọc Houellebecq; tôi không bi quan, tôi đang lạc quan nhìn bất hạnh do kẻ khác viết 

2.4.25

Mạc Ngôn đỏ



quyển sách vào nhà gần 20 năm, nhờ nó mà lần thứ 2 trong đời tôi bị móc mất ví ở cùng một đoạn đường chỉ vì mải xem sách. Thời ấy như nhiều người, tôi vẹo người sa vào đọc văn học TQ, không may cho tôi là tôi vớ ngay phải Mạc Ngôn; giai đoạn đọc TQ của tôi cũng rất nhanh chóng kết thúc, không để lại mặn mà gì nhiều [yếu tố sex trong văn học TQ là cái tôi ngán nhất, mỗi lúc thấy có mùi hương xa đưa tới là tôi lại nghĩ "lại nữa à" "lại nữa"; tôi gọi sex này là sex lồ lộ, sex thô; tôi đã đọc rất nhiều người, viết về sex trần tục, tả nó như đúng những gì nó là, không tránh né nhưng màu sắc điềm nhiên ấy lại khiến việc đọc, đọc mà không bị rơi vào cái hũ nút thô thiển, hiện tôi đang đọc một quyển vh Pháp như thế, đang phải đọc dè (ăn dè)], giờ có lẽ tôi chỉ có thể đọc lại một số ít, như Lý Nhuệ, chẳng hạn. Sau khi gập Tổ tiên có màng chân lại, tôi nghĩ tôi và Mạc Ngôn dừng lại ở đây; lấy tên Mạc Ngôn là "không nói" mà sao nói [viết] cơ man là lan man, nói lắm. Tổ tiên có màng chân định danh là tiểu thuyết, cấu trúc gồm 6 giấc mộng, trong đó chỉ cần qua 2 giấc mộng: giấc mộng thứ nhất Châu chấu đỏ và giấc mộng thứ năm Cô Hai đến ngay sau đó, có thể biết ngay, nhắc đến Mạc Ngôn là nghĩ đến Cao Mật [làng Đông Bắc]; cả 6 giấc mộng có thể xem là 6 truyện dài, duy nhất có giấc mộng thứ ba Tổ tiên có màng chân và giấc mộng thứ tư Báo thù là có sự liền mạch với nhau
[...]

hôm trước có bạn fb vào ib lấy quyển Tổ tiên có màng chân mà tôi đăng pass; rồi chị ấy hỏi Mạc Ngôn nhà em còn gì; bảo: đây là quyển Mạc Ngôn duy nhất lạc vào nhà [lúc í tôi quên mất, tôi còn có Người tỉnh nói chuyện mộng du, nhưng lâu lắm rồi chả thấy nó đâu, hay tôi sút đi rồi mà không hay biết; ngay cái quyển Tổ tiên cũng là tỉnh nói chuyện mộng du mà], ngay cả khi Mạc Ngôn nobel thì tôi chỉ càng thêm khẳng định mình đã chí lý không đọc Mạc Ngôn từ lâu; rồi nghe bạn fb nói, đại ý, không phải ai cũng đọc được, cũng thích Mạc Ngôn; tôi đâm tò mò, người đọc Mạc Ngôn hùng hậu lắm à, sao lại thích được văn chương này chứ, tò mò nên tôi tìm kiếm trường người đọc Mạc Ngôn ở vn, nhất là Tổ tiên có màng chân, vì tôi đọc nó mà không thấy có chút hưởng thụ nào, phải cụ thể cho chắc ăn, sợ mình vịt nghe sấm. Thì chính cái tôi cần tìm lại thấy rất ít thông tin, bài viết nào cũng chỉ lướt qua đúng tiểu thuyết tôi băn khoăn; thậm chí tôi đọc cả 2 luận án tiến sĩ [1 của đh Huế đh sư phạm, dùng lý thuyết liên văn bản nhìn tiểu thuyết của Mạc Ngôn; 1 thì được hoàn thành tại Viện Văn học, Học viện KHXH, Viện KHXH Vn về Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn] thì đều nhắc đến nhiều tác phẩm khác của Mạc Ngôn, Tổ tiên chỉ được nhắc cho có tên, ngay cả khi trong luận văn phân tích yếu tố giấc mơ/giấc mộng, ảo mộng và hiện thực trong tiểu thuyết Mạc Ngôn [đặc biệt có một bài đăng báo lấy chủ đề giấc mơ/giấc mộng trong văn chương Mạc Ngôn cũng chỉ viết có 2 câu về Tổ tiên] trong khi Tổ tiên có màng chân là tiểu thuyết tỉnh nói chuyện mộng, tảng băng trôi trên mặt nước và tảng băng ngầm, cấu trúc rõ ràng đánh số giấc mộng từ một đến sáu

không có ai viết cho tôi đọc về cái tôi tò mò. Tôi nhìn quyển Mạc Ngôn Tổ tiên có màng chân, trong nhà hết sức ái ngại. Tôi sút nó đi thật là chí lý 🙂

1.4.25

louisiana




12 năm nô lệ là câu chuyện có thật của Solomon Northup - một người da đen tự do ở New York bị bắt cóc làm nô lệ năm 1841 và được giải cứu tại đồn điền trồng bông ở Louisiana năm 1853. Sau 12 năm nô lệ, tìm lại được gia đình, trở về đoàn tụ trong tư cách một người tự do Solomon Northup đã kể câu chuyện của mình như một tự truyện và David Wilson chấp bút, biên tập. Câu chuyện một thời đã qua của nước Mỹ thế kỷ 19, đặc biệt gắn với lịch sử một số bang miền Nam [Louisiana, Texas; năm 1968 chính hai giáo sư sử học chuyên nghiên cứu lịch sử vùng Louisiana đã làm sống lại câu chuyện của Solomon Northup và 12 năm nô lệ được phát hành trở lại] vẫn duy trì "thể chế dị hợm": chế độ nô lệ


28.3.25

sự thật là con gái của thời gian



bạn nào thích lịch sử Anh nói chung, hay riêng thời Cuộc chiến Hoa hồng thì đọc Con gái của thời gian đi. Josephine Tey viết, với mình, không đặc sắc văn chương nhưng câu chuyện ngoài việc logic sắc bén, nó còn nhiều thông tin và gọn

thanh tra Alan Grant nằm trên giường bệnh chán nản được bạn mang đến cho một loạt các bức chân dung, vì vốn Grant là người rất thích nhìn ảnh chân dung người khác để định vị trí cho người trong ảnh, quan toà hay bị cáo [có lẽ bệnh nghề nghiệp, có 1 pha anh ta nhìn ra phạm nhân chỉ bởi người 40t mà mặt không nếp nhăn, bởi 1 lối nhìn: 40t mà không nếp nhăn thì hẳn thiếu trách nhiệm và trăn trở với mọi sự trên đời, rất thích hợp cho vị trí làm mà không cần quan tâm hậu quả hay thiện ác]. Trong loạt ảnh cầm xem giết thời gian, có vua Richard Đệ Tam, người vốn được xem là tàn ác, gã gù độc địa, kẻ giết 2 cháu ruột để bảo vệ vương vị, theo như sách giáo khoa sử và các sách sử dành cho người học để đi thi nêu ra; Grant ấn tượng với gương mặt trong ảnh và khi biết đó là Richard III đầy tai tiếng tàn ác, Grant hồ nghi [nhìn mặt bắt hình dong hiếm khi sai, nó sai chỉ bởi người nhìn nó, nhìn mà không thấy, nhìn ra sai]. Từ vị trí thanh tra cảnh sát điều tra vụ án, Grant chuyển sang vị trí của người điều tra học thuật - sử gia. Đây cũng là điều tôi luôn thích ở những người nghiên cứu đúng nghĩa, họ trở thành những người điều tra, lần theo nhân vật của mình, biết nghi ngờ, đặt nghi vấn và giải quyết nó [nhiều khi tới độ ám ảnh]

cái hay của việc lật lại một kết luận lịch sử suốt 400 năm trong quyển sách này là nỗ lực suy luận của các nhân vật điều tra học thuật dựa trên các căn cứ lịch sử [sách giáo khoa là thứ gây thất vọng nhất, tiểu thuyết theo nghĩa nào đấy nếu biết nhặt chi tiết thì không hề tồi, thậm chí như trong Con gái của thời gian thì Thomas More lại vô cùng bịa đặt (giai đoạn Thomas More viết về Richard III thì More mới chỉ khoảng 5 tuổi, khi Richard III bị tiếm ngôi và bị xử thì More chỉ khoảng chập 8 tuổi; lứa tuổi mà thiên về một thằng bé nghe người lớn kể lại, cái nhìn và sự kiện có đáng tin không; chưa tính đến, lợi ích chép sử cho vị vua tiếp theo khiến người ta thích bẻ cong sự thật theo đúng ý: lịch sử thuộc về phe thắng lợi]. Thường các tiểu thuyết sẽ chọn một giai đoạn lịch sử và các nhân vật để đưa vào đó các sự kiện [sự thật/một phần sự thật/hư cấu] để tái tạo sự kiện lịch sử theo cách hiểu và theo kết cục đã định sẵn/hậu truyện có kết cục theo ý tác giả; còn Josephine Tey cho các nhân vật của mình đơn thuần sử dụng logic suy luận đối chiếu nhiều nguồn văn bản lịch sử [một nhân vật trong truyện có nói, đại ý: sự thật không nằm trong các bản tường thuật mà nằm trong các sổ kế toán; tôi thấy điều này luôn đúng, tức là, lịch sử thật sự được viết dưới những dạng thức không chủ ý để trở thành lịch sử 🙂 kể từ khi mọi thứ quy ra tiền/vàng, tiền/vàng được dùng làm vật mang giá trị mua bán, còn sống thì con người còn bị lưu vào các bút toán thu chi mua bán; và các sổ kế toán biết nói sự thật ngay cả khi nó ghi khống :)))], không ngại đặt nghi ngờ và tìm cách trực diện lật lại sự kiện lịch sử 400 năm trước đã được định sẵn kết chung

hoá ra Shakespeare viết Richard III là chính ông Richard - đối tượng của điều tra học thuật trong quyển tiểu thuyết này. Và hoá ra Richard III được minh oan từ thế kỷ 17, Horace Walpole làm điều tương tự vào thế kỷ 18, thế kỷ 19 cũng có người làm điều này, thế kỷ 20 thông qua nhân vật Grant và cộng sự, Josephine Tey gián tiếp làm công việc lật lại sự kiện lịch sử, mang một lối nhìn khác cho người đọc về một vị vua

sự thật là con gái của thời gian, không phải con gái của quyền lực" [Bacon]

25.3.25

Erich Fromm




lại thêm 3 quyển của một nhân vật không bao giờ nghĩ mình sẽ sờ tới, nhưng sách vào nhà thì trước sau cũng phải sờ thôi, nhất là khi biết The art of loving từng có bản dịch ở vn của Tuệ Sỹ từ năm 1969 - Tâm thức luyến ái và một bản dịch khác tên Phân tâm học về tình yêu, cũng năm 1969. Thì phải sờ xem thế nào. Hạnh phúc và tình yêu, những tình cảm, năng tính yêu thương... làm gì có chuyện dễ thế, không miễn phí, không dễ dàng hưởng được... rất nhiều công trình viết về tình yêu, thì đúng thôi, nhưng khó hiểu là, rất nhiều người đọc nó để "học". Tại sao lại học. Khởi thuỷ là hành động, phải hành động thì mới nhận được sự giáo dục, giống như yêu, tình yêu mang đến sự giáo dục; thay vì học nó để hành động yêu, giống như [chờ] được yêu. Tôi cần bởi tôi yêu, thay cho, tôi yêu bởi tôi cần. 


Xã hội tỉnh táo và Trốn thoát tự do là 2 quyển đúng trình hiện lúc này. Đều là những công trình nghiên cứu cách đây chừng 70 năm nhưng nó chỉ ra và phân tích cặn kẽ tâm lý của xã hội văn minh cùng những công dân tự tha hoá phân liệt của nó [quyển Trốn thoát tự do thiên về phân tích cấu trúc tính cách con người hiện đại]. Baudelaire từng đặt một câu, đại ý: Còn lại gì cho thế giới con người trong tương lai... chúng ta sẽ tàn lụi bởi chính cái thứ mà chúng ta cho rằng mình sống nhờ nó. Cũng vậy, Tolstoy chỉ ra việc tất cả những gì con người làm, để làm gì, để đạt được điều gì, các cá nhân cũng như toàn bộ các quốc gia coi thứ được gọi là văn minh làm nền văn minh thực sự dễ dàng làm sao; chính vì nhìn nhận sai nên cái được coi là văn minh thì dễ làm và chấp nhận được còn nhìn nhận đúng về văn minh đòi hỏi nỗ lực khắc khổ vì thế sự nhìn ra luôn bị đại đa số khinh thường và chán ghét, bởi nó phơi bày sự dối trá của cái được gọi là văn minh


"thế kỷ 19 vấn đề là Chúa đã chết, còn trong thế kỷ 20 vấn đề là con người đã chết. Thế kỷ 19 vô nhân đạo có nghĩa là độc ác, còn trong thế kỷ 20 điều đó có nghĩa là sự tự tha hoá. Nguy cơ trong quá khứ là con người trở thành nô lệ. Hiểm hoạ trong tương lai là con người có thể trở thành người máy". Tôi thấy chưa bao giờ con người thoát định mệnh trở thành nô lệ, do và cho chính mình, xã hội môi trường mà con người dựng lên; tưởng là mình tự do, thoát khỏi những ràng buộc của mình của xã hội, tưởng như mình nhận thức rõ về mình về thế giới... nhưng nhầm to, nhận thức về mình luôn là nhận thức sai trệch nhiều nhất, loanh quanh vẫn giống Tôn Ngộ Không trong tay Phật Tổ Như Lai [đúng tên ông Phật í không nhỉ; hôm lâu bạn tôi gửi tôi một stt của một người có vẻ elite, stt í viết nghe có vẻ văn minh nào là chết thì không cần áo quan không cần tổ chức rộng rãi không này không kia... tôi đá mắt đọc lướt mấy giây bảo đứa gửi cho mình: cái ông viết cái này sao mà lắm không thế, thời này bị điên à, thoát khỏi cái không không, cái có để đi vào mê cung của đủ thứ mê cung không, không cái mèo gì mà lắm không thế, rõ dở hơi, lần sau đừng gửi tôi đọc mấy người rồ thế này nhớ, tôi ghét nhất cái bọn vờ vịt, không nhiều thế này thì là cụ của có cụ của dục vọng, thể hiện, chứ không cái mèo gì]. Đang thế kỷ 21, những cỗ máy người, người máy hoá sẽ phá huỷ thế giới và chính chúng bởi không chịu nổi nỗi buồn chán của một cuộc sống vô nghĩa


tôi vẫn câu cũ, học giả viết gì mà dài dòng khó hiểu thế :)))